Hiển thị các bài đăng có nhãn Dược thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dược thảo. Hiển thị tất cả bài đăng

25 tháng 7, 2008

Vì sao thay đổi thời tiết dễ mệt mỏi?

Sự thay đổi thời tiết từ mưa sang nắng, nóng sang lạnh và ngược lại làm cho cơ thể con người cũng phải có những thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh tự nhiên mới. Sự thay đổi này làm cho cơ thể cảm thấy mệt mỏi, đau nhức khớp, cơ, các dây thần kinh... xảy ra ở nhiều người, trẻ em thì quấy khóc, bỏ ăn.

Mệt mỏi còn do sự thay đổi múi giờ (đi từ nước này sang nước khác), do thay đổi thói quen ăn uống làm cho cơ thể chưa kịp thích nghi. Cảm giác mệt mỏi còn hay gặp ở những người ít vận động, hay làm việc một chỗ, cũng dễ thấy ở các đối tượng có lối sống bừa bãi buông thả, không tuân theo đồng hồ sinh học trong cơ thể.

Để phòng chứng mệt mỏi phải giữ được sự thanh thản của tinh thần, hạn chế tối đa tình trạng stress; ăn uống đủ chất, không nên ăn quá nhiều chất đạm, mỡ, không uống nhiều bia rượu, hút thuốc lá và nhớ uống nhiều nước.

Cần có sự tham gia những hoạt động tinh thần tập thể, nhất là người cao tuổi. Mọi người đặc biệt chú ý đến sự luyện tập thường xuyên, có thể là đi bộ, chạy, bơi lội, tùy theo sức khỏe của từng người.

Tư thế yoga chữa đau cổ

Đau cổ là bệnh thường gặp của dân văn phòng do ngồi trước máy tính hàng giờ, gối đầu quá cao khi nằm ngủ, do tổn thương đốt sống cổ… hãy tập 4 động tác yoya đơn giản sau sẽ làm giảm cơn đau cho bạn.

Mỗi động tác sau phải tập ít nhất 3 lần

Động tác 1

Ngửa đầu ra phía sau nhẹ nhàng, giữ nguyên trong năm nhịp đếm, nhẹ nhàng đưa đầu về tư thế bình thường

Gập đầu về phía trước, cằm tì nhẹ lên ngực, giữ nguyên trong năm nhịp đếm.

Động tác 2

Nghiêng đầu sang trái, giữ nguyên trong năm nhịp đếm, trở về tư thế bình thường.

Nghiêng đầu sang phải, giữ trong năm nhịp đếm và trở về bình thường.

Động tác 3

Quay đầu sang trái, giữ nguyên một lát, trở về tư thế bình thường, sau đó quay sang phải.

Động tác 4

Hít vào xuay đầu theo chiều kim đồng hồ, được nửa vòng thì thở ra. Sau đó đổi chiều

Chúc các bạn luôn chăm sóc thoả đáng cho cổ của mình .

Nhân sâm Sử dụng không đơn giản



Nhân sâm là một vị thuốc quý, chứa 15 yếu tố vi lượng. Nhân sâm có tính chất hỗ trợ bồi bổ trong quá trình điều trị các chứng hư, mệt mỏi, nội thương, tăng sức đề kháng, thúc đẩy công năng của tuyến sinh dục.

Nhiều người cứ ngộ nhận và đánh giá nhân sâm như thần dược, điều đó là không đúng. Nhân sâm cũng là thuốc, đã là thuốc không phải muốn dùng thế nào cũng được và không phải ai cũng có thể dùng được. Thể trạng và bệnh tình của mỗi người khác nhau, nên tham khảo ý kiến của bác sĩ, nếu không sẽ rất nguy hiểm.

Nếu dùng nhân sâm với liều quá cao, quá dài ngày sẽ bị ngộ độc, Y học gọi là "hội chứng ngộ độc nhân sâm". Những biểu hiện của ngộ độc thường là huyết áp tăng, chảy máu mũi, thần kinh hưng phấn quá độ, mất ngủ, đau đầu, chóng mặt, nổi mề đay, mẩn ngứa, nhiều người còn bị co giật..

Nhân sâm chỉ phù hợp với những người có thể trạng bị khí suy. Nếu nguyên khí bình thường, không bị suy tổn dùng nhân sâm sẽ sinh khí dư, dễ bốc hỏa. Còn người bị tỳ vị hư hàn, chức năng tiêu hóa suy giảm hoặc rối loạn tiêu hóa, bồi bổ thêm nhân sâm thì bệnh sẽ càng nặng hơn.

Các loại sâm đều có tác dụng bổ, nhưng việc sử dụng không đơn giản. Hiện nay, có loại sâm đã được nghiên cứu tác dụng dược lý, nhưng có loại vẫn được sử dụng theo kinh nghiệm.

Khi sử dụng phải nắm được dược tính của nó,
Hiện nay có 5 loại sâm dùng để trị bệnh cho 5 tạng cơ thể: Nhân sâm bổ tỳ, Sa sâm bổ phế, Huyền sâm bổ thận, Đan sâm hay còn gọi là Xích huyết sâm bổ tâm, Quyền sâm hay Tử sâm bổ can. Nhân sâm thường dùng ở liều từ 1-9g

Nếu dùng quá liều có thể gây những tác dụng phụ như: nhức nặng đầu, buồn nôn, tim nhanh, kích động, tăng huyết áp. Đặc biệt không được dùng nhân sâm vào buổi tối, sẽ dẫn tới tình trạng mất ngủ .

Chú ý Khi Dùng Nhân Sâm .
Nhân sâm đứng đầu trong bốn vị thuốc quý của y học phương Đông là sâm, nhung, quế, phụ. Tuy nhiên, trên thị trường có tới 90% là sâm giả và làm nhái, thêm vào đó nhiều người không biết cách dùng nên không phát huy hết những hiệu quả điều trị từ nhân sâm.
Tác dụng của nhân sâm

Theo các nghiên cứu khoa học, nhân sâm giúp lưu thông tuần hoàn máu, cân bằng huyết áp, chống stress, tăng cường trí lực, sinh lực, phòng xơ cứng động mạch, tăng khả năng miễn dịch, chữa đau dạ dày, giảm khả năng mắc ung thư, bệnh tiểu đường.

Tuy nhiên, nếu dùng quá nhiều cũng không tốt cho sức khỏe do trong thành phần của sâm có nhiều chất saponin, dễ gây tổn thương não.

Những chú ý khi dùng nhân sâm

Nhân sâm và các sản phẩm từ nhân sâm có thể được dùng cho trẻ bắt đầu từ hai tuổi trở lên. Có rất nhiều sản phẩm được chế biến từ nhân sâm: từ nguyên củ, đến tinh bột, xắt lát tẩm mật ong, thuốc viên, siro, nước uống, chè, cao sâm... Mỗi loại được dành cho từng đối tượng khác nhau nên rất dễ chọn lựa.

Để biết củ sâm có đạt chất lượng hay không thì khó có thể nhìn bằng mắt thường mà phải qua máy móc kỹ thuật phân tích.

Sâm tươi dùng tốt nhất là xắt lát ngâm mật ong. Ngâm rượu theo cách mà các bạn thường làm cũng được, tuy nhiên, nên để 5 - 6 năm sau mới dùng.

Trong sâm có thành phần saponin, được hiểu như là hoạt chất chính tạo nên những công dụng của nhân sâm. Sâm càng có nhiều thành phần này thì càng tốt.

Vì vậy, dù có nhiều nước trên thế giới trồng sâm nhưng sâm của Hàn Quốc và Triều Tiên được đánh giá là tốt nhất. Trong sâm tươi có khoảng 10 thành phần saponin nhưng sau khi qua các công đoạn sấy khô thành hồng sâm và bạch sâm, nhân sâm Hàn Quốc có thể có tới 35 thành phần saponin. Sau khi thành hồng sâm, giá thành sản phẩm có thể cao gấp 10 - 20 lần.

Sâm khô dùng tốt nhất là đun lấy nước uống hoặc cũng xắt lát hấp. Khi mua những hộp sâm khô, bạn nên để ý đến tờ giấy màu vàng, đó là giấy kiểm định sản phẩm dán ở cạnh hộp.

Trong khi sâm tươi chỉ có thể bảo quản tối đa 10 ngày trong tủ lạnh thì sâm khô các bạn dùng được lâu hơn, có thể để được 10 năm.

Lá sen chữa được nhiều bệnh

Lá sen tươi băm nhỏ nấu với hạt đậu xanh (để nguyên vỏ) làm canh ăn có thể phòng và chữa được rôm sẩy, ghẻ lở. Nước sắc lá sen để rửa chữa dị ứng do sơn. Dịch ép từ lá sen dùng chữa tiêu chảy...

Từ trước đến nay, người ta chỉ chú ý sử dụng hạt sen (liên nhục) để nấu chè, tâm sen (liên tâm) làm thuốc an thần, tua sen (liên tu) dùng ướp chè, ngó sen (liên ngẫu) làm thực phẩm. Còn lá sen thường chỉ được dùng để gói thức ăn, ít người nghĩ rằng lá sen lại có nhiều tác dụng quý để chữa bệnh.

Về hóa học, lá sen chứa 0,2 - 0,3% tanin, 0,77 - 0,84% alcaloid, trong đó có nuciferin (chủ yếu), nor - nuciferin, roemerin, pro - nuciferin, vitamin C, các acid citric, tartric, succinic. Ngoài ra, còn có quercetin, isoquercitrin, nelumbosid, leucocyanidin, leuco - delphinidin. Tỷ lệ hoạt chất có trong lá sen bánh tẻ cao hơn lá non và lá già.

Về dược lý, lá sen đã được nghiên cứu chứng minh có tác dụng an thần, chống co thắt cơ trơn, chống choáng phản vệ, ức chế loạn nhịp tim. Tác dụng an thần của lá sen mạnh hơn tâm sen. Nuciferin chiết từ lá sen có tác dụng kéo dài giấc ngủ. Thuốc senin chứa alcaloid lá sen được áp dụng trên 36 bệnh nhân ngoại tâm thu thất cơ năng với tim không có tổn thương thực thể, đạt hiệu quả tốt với tỷ lệ 75%, thuốc không gây tác dụng phụ. Thuốc leonuxin bào chế từ lá sen và ích mẫu cũng được điều trị cho các bệnh nhân ngoại tâm thu thất với kết quả tốt 64%, trung bình 21%, không kết quả 15%.

Lá sen được dùng trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian với tên thuốc là liên diệp hoặc hà diệp, được thu hái quanh năm, thường dùng lá non (hoặc lá còn cuộn lại chưa mở) và lá bánh tẻ, bỏ cuống. Dùng tươi hoặc phơi, sấy khô, đôi khi sao thơm. Dược liệu là nguyên lá to, khô, màu lục, không bị sâu, không có vết thủng, có vị đắng, hơi chát, mùi thơm nhẹ, tính mát bình, không độc, vào 3 kinh can, tỳ, thận, có tác dụng thanh nhiệt, cầm máu, tán ứ, an thần, lợi thấp.

Chữa háo khát: Lá sen non (loại lá còn cuộn lại chưa mở càng tốt) rửa sạch, thái nhỏ, ép lấy nước uống làm nhiều lần trong ngày. Hoặc thái nhỏ, trộn với các loại rau ghém, ăn sống hằng ngày. Người bị tiêu chảy vừa chữa khỏi, cơ thể đang bị thiếu nước dùng rất tốt.

Chữa máu hôi không ra hết sau khi sinh: Lá sen sao thơm 20-30g tán nhỏ, uống với nước hoặc đồng tiện (nước tiểu trẻ em) hoặc sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày.

Chữa mất ngủ: Lá sen loại bánh tẻ 30g rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc hoặc hãm uống. Có thể dùng viên nén gồm cao mềm lá sen 0,03g, bột mịn lá sen 0,09g, tá dược vừa đủ cho một viên. Ngày uống 3-6 viên trước khi đi ngủ 3 giờ. Hoặc sirô lá sen gồm cao mềm lá sen 4g, cồn 45o 20ml, sirô đơn vừa đủ cho 1.000ml. Người lớn uống 15ml, trẻ em tùy tuổi 5ml.

Chữa sốt xuất huyết: Lá sen 40g, ngó sen hoặc cỏ nhọ nồi 40g, rau má 30g, hạt mã đề 20g, sắc uống ngày một thang. Nếu xuất huyết nhiều, có thể tăng liều của lá và ngó sen lên 50-60g.

Chữa chảy máu não và các biến chứng kèm theo ở bệnh nhân tăng huyết áp: Lá sen 15,5g, cam thảo 15,5g, đỗ trọng 12,5g, sinh địa, mạch môn, tang ký sinh, bạch thược mỗi vị 10g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa băng huyết, chảy máu cam, tiêu chảy ra máu: Lá sen 40g để sống, rau má 12g sao vàng, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

Chữa ho ra máu, nôn ra máu: Lá sen, ngó sen, sinh địa mỗi vị 30g; trắc bá, ngải cứu mỗi vị 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống trong ngày.

Chữa mất ngủ: Dùng viên bao sen - vông gồm cao khô lá sen 0,05g tương đương với 1g lá sen khô, cao khô lá vông 0,06g, bằng 1g lá khô, l - tetrahydropalmatin (hoạt chất chiết từ củ bình vôi) 0,03g, tá dược vừa đủ cho 1 viên. Ngày uống 2-4 viên trước khi đi ngủ. Một đợt điều trị từ 10-15 ngày.

Khoa thần kinh - Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội đã dùng viên bao sen - vông cho 100 bệnh nhân uống thấy tác dụng an thần tốt, gây ngủ nhanh, giấc ngủ kéo dài, êm dịu. Khi tỉnh giấc, không thấy mệt mỏi so với dùng meprobamat. Viên sen - vông đã được sản xuất rộng rãi để dùng trong nước và xuất khẩu.

Chế phẩm Passerynum gồm lá sen, lạc tiên, vông nem, hạt tơ hồng, thảo quyết minh, lá dâu tằm, hạt keo giậu và sâm đại hành đã thể hiện tốt trên lâm sàng, làm người bệnh ngủ dễ dàng và ngon giấc, không gây trạng thái buồn ngủ và không làm thay đổi huyết áp.

Ngoài ra, lá sen, hoa hòe mỗi vị 10g; cúc hoa vàng 4g, sắc uống còn chữa cao huyết áp, đau mắt.

Dùng ngoài, núm cuống lá sen nấu nước đặc để rửa, rồi lấy lá sen rửa sạch, giã nát với cơm nếp, đắp làm tan mụn nhọt.

Theo tài liệu nước ngoài, lá sen hãm uống được dùng phổ biến như một loại nước trà trong những ngày hè oi bức để chống nóng, giải nhiệt, làm dịu mát, đỡ khát. Các nhà khoa học người Mỹ đã nghiên cứu thấy trong lá sen có hoạt chất làm dịu dục tính, chữa di tinh, mộng tinh

Chữa bệnh bằng cây sả

Trong thực phẩm, sả là gia vị quen thuộc dùng ăn sống hoặc tẩm ướp cho thơm các món ăn còn trong y học, sả tác dụng phòng và chữa bệnh rất hữu hiệu.

Chữa bệnh.

-Chữa bụng trướng, chân tay gầy gò: lá sả 12g; vỏ bưởi, hồi hương, trạch tả, mộc thông, cỏ bấc, mỗi vị 10g; quế 5g; bồ hóng, diêm tiêu, mỗi vị 2g; xạ hương 0,05g. tất cả sắc cách thủy với 200ml nước trong 15-30 phút, rồi uống làm 2 lần trong ngày. kiêng ăn cơm nếp và muối mặn. nên ăn vài khẩu mía trước khi uống thuốc để tránh khé cổ.

- Thuốc xông giải cảm: Lá sả, lá bưởi, lá chanh, cúc tần, hương nhu hoặc lá bạch đàn (có thể thêm tía tô, bạc hà, kinh giới), mỗi thứ 50g, cho vào nồi, đậy kín, đun sôi trong 5-10 phút. lấy ra, mở vung, trùm chăn xông hơi cho ra mồ hôi, lau khô, rồi uống một bát nước thuốc, đắp chăn, nằm nghỉ.

Nhân dân miền sơn cước thường lấy nõn sả muối dưa ăn để phòng ngừa sơn lam chướng khí, sốt rét ngã nước (Ảnh TL).

- Chữa phù nề chân, tiểu ít, thấp thũng: Lá sả 100g, rễ cỏ xước, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề, mỗi thứ 50g. tất cả rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày. dùng 3-4 ngày.

- Rễ: Dùng riêng, lấy rễ tươi giã nát, xát vào vết chàm chữa chàm mặt ở trẻ em.

- Chữa tiêu chảy: Rễ sả 10g; củ gấu, vỏ rụt, mỗi vị 8g; vỏ quýt, hậu phác, mỗi vị 6g; sắc uống. hoặc rễ sả 10g, búp ổi 8g, củ riềng già 8g, thái nhỏ, sao qua, sắc đặc uống.

- Chữa đau dạ dày - tá tràng: Rễ sả sao 10g; cám gạo rang cháy 10g; hương phụ sao 8g; hậu phác tẩm nước gừng, sao 6g; thạch xương bồ, củ riềng nướng, mỗi vị 4g; dạ dày lợn sấy khô giòn 1 cái. tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 12g với nước ấm.

- Chữa ho: Rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử, mỗi vị 250g (4 vị này giã nát, ngâm rượu 40oC vừa đủ để được 200ml); bách bộ bỏ lõi, thái nhỏ, sao khô 500g; mạch môn bỏ lõi 300g; tang bạch bì tẩm mật, sao vàng 200g (3 vị này sắc và cô đặc lại thành 300ml cao lỏng). trộn lẫn cao lỏng và rượu thuốc. ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 10ml.

Dùng ngoài, rễ sả thái nhỏ, phơi khô, tán bột trộn với phèn phi rồi bôi để chữa loét lợi, hôi nách.

Phòng bệnh

Nhân dân miền sơn cước thường lấy nõn sả muối dưa ăn để phòng ngừa sơn lam chướng khí, sốt rét ngã nước. Phụ nữ lại lấy lá sả nấu nước gội đầu làm thơm, sạch gàu, trơn tóc, tránh những bệnh về tóc và da đầu. Nhân dân trồng cây sả quanh nhà ngoài vườn, xung quanh nhà vệ sinh để xua đuổi ruồi, muỗi, dĩn, bọ chét vừa làm sạch môi trường, vừa có tác dụng phòng bệnh. Ngoài ra, tinh dầu sả còn khử mùi hôi trong công tác vệ sinh. Trong y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian, sả được dùng với tên thuốc là hương mao hay hương thảo. Dược liệu có vị the, cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, sát khuẩn, chống viêm, hạ khí, thông tiểu, tiêu đờm.

Linh chi (Ganoderma lucidum)


Linh chi vẫn được gọi là cỏ linh chi, nhân dân còn gọi là cỏ tiên. Thực ra nó không phải là cỏ, mà là một loại nấm, họ Ganoderma, thường ký sinh trên cọc gỗ hoặc gốc cây mục của những cây lá rộng miền núi.

Linh chi gồm có sợi nấm và quả nấm. Phần làm thuốc chính là quả nấm. Trên cuống nấm hình trụ tròn, mọc một mũ nấm hình bầu dục, bề mặt có vân trám vòng, số vòng thể hiện tuổi của nấm. Khi linh chi còn non có màu trắng sữa, trưởng thành chuyển thành màu nâu đỏ, bóng loáng. Mặt lưng của mũ nấm là lớp quả nhiều lỗ màu trắng hoặc nâu nhạt. Khi trưởng thành trong ống nấm tản ra nhiều bào tử màu nâu, gặp điều kiện thuận lợi nó sẽ mọc thành sợi nấm rồi phát triển thành quả nấm.

Linh chi được dùng làm thuốc bổ, vị ngọt hơi đắng, tính ôn, có tác dụng bổ khí bổ máu, dưỡng tâm, an thần, giảm ho, hen, có thể dùng để chữa thần kinh suy nhược, cao huyết áp, bệnh van tim, lượng colesteron quá cao, bệnh viêm phế quản mãn ở người già, khò khè ở trẻ em, bệnh giảm bạch cầu.

Thành phần hóa học của linh chi chủ yếu gồm các axit amin, các protein, fungallysozyme, các loại đường, các alkaloid, vitamin B2, C,... Manitol, trehalose.

Hiện nay linh chi đã được chế biến thành các dạng thuốc viên và thuốc tiêm chữa hen, ho, cao huyết áp, thần kinh suy nhược, mất ngủ, hiệu quả rất rõ rệt.


Nấm linh chi có thể chữa ung thư tuyến tiền liệt.

Các nhà khoa học ở Đại học Haifa, Israel khẳng định nấm linh chi - một loài nấm dại thường dùng trong Đông Y ở Trung Quốc (và Việt Nam) - có thể chữa ung thư tuyến tiền liệt.

Nhóm nghiên cứu đã phát hiện các phân tử trong nấm linh chi (tên khoa học là Ganoderma lucidum) giúp ngăn cản một vài cơ chế liên quan đến sự phát triển của khối u ở bộ phận này.

"Chúng tôi biết rằng loài nấm này có thể cản trở sự phát triển của khối u bằng cách tác động lên hệ miễn dịch. Nhưng các thử nghiệm trong ống nghiệm mà chúng tôi đã làm cho thấy nó trực tiếp tấn công vào tế bào ung thư", trưởng nhóm nghiên cứu Ben Zion Zaidman nói.

"Kết quả này mở ra hy vọng phát triển các loại thuốc chữa ung thư tiền liệt tuyến", ông cho biết.

Nghiên cứu hiện mới dừng lại ở trong các đĩa thí nghiệm. Họ sẽ tiếp tục thử nghiệm trên động vật.

Nấm linh chi thường sống ở các vùng hoang dã xa xôi, trên các thân cây mận đang phân huỷ, đôi khi là trên cây sồi, trong những rừng rậm.

Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những dạng ung thư phổ biến nhất ở đàn ông, với hơn 543.000 người được chẩn đoán mỗi năm trên toàn thế giới.

THẦN DƯỢC THUỐC VIÊN NẤM LINH CHI TRỊ BÁCH BỆNH VÀ ĐỒNG THỜI GIÚP ĐƯỢC NHIỀU CHỨNG CÙNG MỘT LÚC.

Chuyên trị dị ứng (Allergy), Cholesterol, tiểu đường (Diabetic), điều hòa huyết áp (Hypertensive), phong thấp (Rheumatic), da bị chai nứt, tay chân tê rần, đổ mồ hôi hay vọp bẻ, viêm, thấp khớp, biếng ăn, mất ngủ, mệt mỏi, suy nhược, chống lão hóa, mạnh gân cốt, bổ xương, bệnh lãng trí (Alzeiheimer), phục hồi trí nhớ, các chứng về tim mạch (Cardiovascular), sơ cứng động mạch, đau tim cấp tính, choáng váng, ngất xỉu, những triệu chứng lúc bế kinh (Menopause), những bệnh lý mà các hội chứng y khoa không thể xác nhận được, những triệu chứng thần kinh (Neurosis), đau nửa đầu (Migraine), nhức đầu kinh niên, viêm khí quản, bệnh phổi, suyễn, chai sưng, viêm gan (Hepatitis) do siêu vi khuẩn A,B,C, đau gan kinh niên, các chứng về da, bệnh bạch cầu (Leukemia), viêm, suy thận, tiểu đêm, sưng, viêm dạ dày, ruột, táo bón, trỉ, ung thối ruột non. Giảm sự căng thẳng (Depress), giảm cân. Các loại ung thư : tuyến tiền liệt, các loại bướu (Tumour), bướu não, ruột, gan, dạ dày, phổiv.v.. và các bệnh nan y khác.


THẦN DƯỢC THUỐC VIÊN NẤM LINH CHI TRỊ BÁCH BỆNH VÀ ĐỒNG THỜI GIÚP ĐƯỢC NHIỀU CHỨNG CÙNG MỘT LÚC.

Chuyên trị dị ứng (Allergy), Cholesterol, tiểu đường (Diabetic), điều hòa huyết áp (Hypertensive), phong thấp (Rheumatic), da bị chai nứt, tay chân tê rần, đổ mồ hôi hay vọp bẻ, viêm, thấp khớp, biếng ăn, mất ngủ, mệt mỏi, suy nhược, chống lão hóa, mạnh gân cốt, bổ xương, bệnh lãng trí (Alzeiheimer), phục hồi trí nhớ, các chứng về tim mạch (Cardiovascular), sơ cứng động mạch, đau tim cấp tính, choáng váng, ngất xỉu, những triệu chứng lúc bế kinh (Menopause), những bệnh lý mà các hội chứng y khoa không thể xác nhận được, những triệu chứng thần kinh (Neurosis), đau nửa đầu (Migraine), nhức đầu kinh niên, viêm khí quản, bệnh phổi, suyễn, chai sưng, viêm gan (Hepatitis) do siêu vi khuẩn A,B,C, đau gan kinh niên, các chứng về da, bệnh bạch cầu (Leukemia), viêm, suy thận, tiểu đêm, sưng, viêm dạ dày, ruột, táo bón, trỉ, ung thối ruột non. Giảm sự căng thẳng (Depress), giảm cân. Các loại ung thư : tuyến tiền liệt, các loại bướu (Tumour), bướu não, ruột, gan, dạ dày, phổiv.v.. và các bệnh nan y khác.Khảo sát hơn 365 loại dược thảo Linh Chi được xếp hàng đầu trong danh sách dược thảo thượng hạng. Nấm Linh Chi Đỏ thuần thiên nhiên nên không kỵ thai, có thể dùng chung với các loại thuốc Tây và dùng hàng ngày mà không có tác dụng phụ.Nấm có màu sơn bóng đỏ, hình mũ với cuống dài, dính lệch về phía bên. Bào tử hình trứng có hai lớp vỏ (Lớp ngoài nhẵn, lớp trong sần sùi) với một đầu tù.Nấm Linh Chi sản xuất từ Nhật bản có hàm lượng 11% Polysaccharides, một dược chất quan trọng và có giá trị của Linh Chi, tỷ lệ Polysaccharides càng cao, công hiệu điều trị của nấm Linh Chi càng mạnh.Nhờ được tinh chế với thành phần Polysaccharides cao nhất nên viên Linh Chi của Nhật Bản có phẩm chất siêu hạng, vượt bực và hiệu quả hơn nhiều so với các sản phẩm Linh Chi khác.Ngoài ra Linh Chi Đỏ còn chứa Germanium một chất giúp khí huyết lưu thông và thúc đẩy sự hấp thụ Oxy của tế bào cao hơn Nhân Sâm 8 lần. Nấm Linh Chi Đỏ hổ trợ cho hệ thống Miễn dịch, thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa cùng các cơ phận khác để phục hồi và bảo tồn sức khỏe.Thuốc viên nấm Linh Chi Đỏ chẳng những dùng cho người có bệnh, mà còn cho các bậc lão thành lẫn các bạn trẻ cũng dùng được để tránh bệnh hoạn, nâng cao tuổi thọ, tăng trí tuệ, bổ óc và tăng cường sức lực.Xin xem tài liệu trong website www.mikei.com mà các bác sĩ đã thực nghiệm và đạt được nhiều kết quả cụ thể, tốt đẹp trong các bệnh viện tại Nhật.Do tin tưởng vào tính chất trị liệu của loại dược thảo này, Viên Linh Chi Đỏ của Trung Tâm Tre Xanh do dược sĩ nhiều năm kinh nghiệm đảm trách phần bào chế với kỹ thuật tân tiến, chất lượng cao, giá thành rẻ hơn so sánh với các nơi khác.Danh từ khoa học:Ganoderma lucidum, Ganoderma japonicumCác tên khác:Chi zhi, Hong ling zhi, Linh chi, Ling chih, Ling qi, Ling zhi, Ling zhi cao, Lucid ganoderma, Mannentake, Reishi, Rokkaku reishi, Young ji, Zi zhi.

CÔNG DỤNG CHUNG

Linh chi có công hiệu nâng cao thể chất, nâng cao khả năng thích ứng của cơ thể, điều chỉnh cân bằng sinh lý, nâng cao khả năng kháng bệnh, khả năng phục hồi sức khỏe, có tác dụng phù chình trừ tà.
Trong Đông y, phù chính tức là nâng cao thể chất, trừ tà tức là trừ bệnh, phù chính trừ tà nghĩa là tăng cường thể chất, trừ bệnh tật. Thể chất tốt thì ít mắc bệnh, nếu có mắc bệnh cũng dễ lành. Linh chi có công hiệu phòng trị tốt đối với nhiều loại bệnh, từ u bướu đến cao huyết áp, mỡ trong máu cao, ứ máu, tắc mạch máu, bệnh mạch vành, chảy máu não, nhồi máu cơ tim; từ bệnh trĩ đến bệnh viêm tuyến tiền liệt; từ bệnh suy nhược thần kinh đến bệnh hen suyễn, đều có thể dùng Linh chi để phòng ngừa và điều trị. Linh chi cũng có hiệu quả phòng trị bệnh tốt đối với các bệnh do chức năng miễn dịch giảm, quá mẫn và trở ngại sinh lý gây nên. Ngoài ra, Linh chi còn có tác dụng làm trì hoãn quá trình lão hóa của cơ thể, nâng cao khả năng kháng bệnh. Linh chi trị bệnh là xuất phát từ việc nâng cao thể chất, nâng cao khả năng kháng bệnh của cơ thể, điều chỉnh cân bằng sinh lý, chứ không phải như tân dược trực tiếp tiêu diệt vi khuẩn, vi rút gây bệnh, hoặc diệt trừ nhân tố gây bệnh. Do vậy, Linh chi trị bệnh đem lại hiệu quả tương đối chậm, thường khoảng 2-3 ngày mới có hiệu quả, có trường hợp phải đến 10-30 ngày mới thấy hiệu quả, nhưng dùng Linh chi trị bệnh hiệu quả ổn định, khi điều trị một bệnh nào đó, đồng thời còn làm thuyên giảm những bệnh khác.

NẤM LINH CHI ĐỎ ĐỐI VỚI BỆNH U BƯỚU (LUCID GANODERMA IN TREATING TUMOR)

Linh chi có tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch cơ thể, nâng cao khả năng bao vây và sát thương của tế bào miễn dịch cơ thể đối với tế bào u, hình thành nên một lớp sợi dày và kiên cố chung quanh khối u, bao vây và cắt đừt nguồn dinh dưỡng cung cấp cho khối u, từ đó làm chậm lại hoặc kìm hãm sự phát triển của khối u, một số trường hợp u bướu có thê được trị lành. Linh chi còn giúp cải thiện thể chất của bệnh nhân u bướu, giảm nhẹ triệu chứng. Đa số bệnh nhân u bướu sau khi uống Linh chi hoặc Linh chi bào từ triệu chứng giảm thấy rõ, ăn uống và giấc ngủ được cải thiện, các triệu chứng như sốt nhẹ, ho, tức ngực, đại tiện, lỏng đều chuyển tốt, khối u bị khống chể, chức năng miễn dịch phục hồi, tinh thần và thể lực được cải thiện, tuổi thọ được kéo dài, một số trường hợp u bướu được trị lành. Dùng Linh chi phối hợp với hóa trị, xạ trị, sẽ làm giảm phản ứng phụ của hóa trị và xạ trị, nâng cao hiệu quả của hóa trị và xạ trị.Bệnh viện Tương Nhã thuộc Đại học Y khoa Hồ Nam Trung Quốc điều trị bệnh u bướu bằng nước Linh chi uống phối hợp với hòa trị và xạ trị, trong đó có 25 ca ung thư máu cấp tính, 21 ca ung thư máu mạn tính, 19 ca u lympho ác tính, 9 ca u tủy xương đa phát, các bệnh nhân đều qua kiểm tra tủy xương và tế bào học. Bắt đầu cho bệnh nhân uống Linh chi trước khi điều trị bằng hóa trị và xạ trị, tiếp tục uống đến khi hóa trị và xạ trị kết thúc. Kiểm tra bệnh nhân trước và sau khi điều trị, kết quả điều trị như sau: Ở bệnh ung thư máu cấp tính có 15 ca đỡ hoàn toàn, 3 ca đỡ một phần, 7 ca vô hiệu và tử vong, điều trị có hiệu quả là 72%, trong đó hiệu quả rõ rệt chiếm 60%; ở bệnh ung thư máu mạn tính, có 14 ca triệu chứng đỡ hoàn toàn, 1 ca đỡ một phần, điều trị có hiệu quả là 71.4%, trong đó có hiệu quả rõ rệt là 66.6%; ở 15 ca u lympho ác tính, có 10 ca đỡ hoàn toàn, còn lại đều vô hiệu, điều trị có hiệu quả rõ rệt chiếm 66.6%; ở 8 ca u tủy xương đa phát, có 4 ca đỡ hoàn toàn, 2 ca đỡ một phần, điều trị có hiệu quả là 75%, trong đó hiệu quả rõ rệt là 50%.

NẤM LINH CHI ĐỎ TRỊ BỆNH RỤNG TÓC (LUCID GANODERMA CURES HAIR LOSS)

Khoa da liễu thuộc Viện y học Dương Châu, bệnh viện Hữu nghị Bắc Kinh và Trung tâm nghiên cứu bệnh da liễu ở Viện khoa học y học Trung Quốc dùng nước Linh chi tiêm và uống thay nhau để điều trị 232 ca bệnh rụng tóc, liệu trình 30-60 ngày, kết quả: trị lành 70 ca, hiệu quả 51 ca, chuyển biến tốt 62 ca, vô hiệu 49 ca, số ca điều trị có hiệu quả chiếm tý lệ 78.88%. Qua phân tích nghiên cứu, Linh chi điều trị bệnh rụng tóc là thông qua điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể, khiến chức năng sinh lý của nang long ở biểu bì vùng đầu được phục hồi, giúp cho long tóc mọc lại và giảm rụng tóc. Do chức năng sinh lý được cải thiện nên các triệu chứng nhức đầu, chóng mặt cũng khỏi, thể chất cũng tăng tiến.

Cây Anh túc


Quê hương của Anh túc ở miền Trung Á, Ấn Độ và Iran.

Anh túc là cây thân thảo, tuổi thọ 2 năm. Toàn thân màu phớt lục, lá hình bầu dục dài, mọc ôm thân, nở hoa vào mùa hè, mọc riêng lẻ ở ngọn, hoa to đẹp, nở hướng lên trên, có các màu đỏ, tím và trắng. Hoa chóng rụng, quả sóc hình cầu, trong có nhiều hạt nhỏ.

Đông y sử dụng vỏ quả để làm thuốc, lương y thường ghi trong đơn thuốc là "vỏ ngự mễ" hoặc "anh xác". Sau khi "lấy nhựa", mùa hè sẽ thu hái, vứt bỏ hạt và đầu dài, phơi khô, sao dấm hoặc tẩm mật ong cất giữ. Hạt Anh túc chứa 50% dầu, có thể ép dầu.

Vỏ Anh túc tính bình, vị chua chát, độc, chứa morphin, codein, Narcotin, papaverin,... Khoảng hơn 30 alkaloid, có tác dụng giả đau, giảm ho, ngừng ỉa chảy, dùng chữa các bệnh ho hen lâu ngày, đau sườn, đau ngực, đau bụng, kiết lị lâu không khỏi, còn dùng chữa di tinh, hoạt tinh bởi thận hư.

Trong quả Anh túc chất nhựa trắng, lấy ra phơi khô thành thuốc phiện, trong đó chứa 10% morphin, có thể giải trừ hiện tượng chuột rút và ức chế cơ tim, chủ yếu dùng trong co thắt cơ tim tắc động mạch. Nhưng dùng nhiều sẽ gây nghiện, bị ngộ độc dần dần ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, trở thành "con nghiện", sau đó nghẹt thở chết. Do đó, ngoài việc trồng làm thuốc được quản lý chặt chẽ ra, nhà nước cấm trồng cây Anh túc.


Chất nhựa trắng trong quả Anh túc phơi khô thành thuốc phiện

Nấm độc là nấm có độc tố

Việt Nam ở trong vùng nhiệt đới, có khí hậu nóng và ẩm cho nên có rất nhiều loại nấm: Nấm ăn được, nấm ăn không được và nấm độc. Nấm độc là nấm có độc tố, không ăn được. Có loại nấm chứa độc tố gây chết người (Amatina phalloides, A.verna...), chỉ cần ăn 50g nấm tươi có thể làm chết ngay một thanh niên trẻ, khỏe mạnh mà không có thuốc nào cứu chữa được.

Một số loại nấm ăn vào gây nhiều bệnh về tiêu hóa, gan, thận, thần kinh..., nếu ăn nhiều, không được điều trị kịp thời dễ gây tử vong. Có một số nấm tiết độc tố ra môi trường sinh trưởng như đất, phân, nước... Các loại rau, củ trồng trên môi trường đó cũng sẽ bị nhiễm độc. Nấm độc thì cực kỳ nguy hiểm, dù chỉ ăn một lượng rất ít, cũng có thể dẫn đến cái chết. Có nhiều loại nấm độc lại rất giống với nấm ăn được. Sau đây là một số loại nấm và cách nhận dạng chúng:

Nón tử thần
(Amanita Phalloides)
  • Màu sắc: hơi xanh ô liu hoặc hơi vàng
  • Mũ: rộng từ 5 – 15 cm
  • Thân: màu nhạt hơn mũ
  • Khía: màu trắng, mịn
  • Thịt: trắng
  • Loa chén: lớn
  • Thường mọc nhiều trong các rừng rậm, rất độc
Nấm thiên thần hủy diệt (Amanita virosa)
  • Màu sắc: toàn bộ trắng tinh
  • Mũ: dạng hình nón, rộng từ 5 – 20cm
  • Khía: trắng
  • Loa chén: lớn
  • Mùi: hăng dịu
  • Mọc ở Đông Canada và Tây Bắc Thái Bình Dương, rất độc.
Nấm da beo (Amanita pantherina)
  • Màu sắc: hơi nâu với những đốm trắng, không thể rửa sạch
  • Mũ: rộng từ 5 – 10cm
  • Thân: to, dầy, màu trắng
  • Khía: trắng
  • Thịt: trắng
  • Thường mọc ở rừng rậm, rất độc.
Nấm bay (Amanita muscaria)
  • Màu sắc: mũ màu đỏ có những đốm trắng, những đốm nầy không bị trôi dưới các cơn mưa.
  • Mũ: rộng từ 7 – 25 cm
  • Vành: màu trắng, rũ xuống
  • Thân: màu trắng, có những mụt vàng ở dưới gốc
  • Khía: màu trắng
  • Nấm đôi khi có màu vàng nếu tìm thấy ở dưới những gốc cây thông.
Russula sardonia
  • Màu sắc: đỏ hồng
  • Mũ: hơi lõm, rộng từ 4 – 10 cm
  • Khía: trắng, nghiêng xuôi xuống chân
  • Thân: dầy, trắng, phía dưới hơi hồng
  • Thịt: trắng, hơi hồng dưới lớp da ngoài
  • Hương vị: rất cay (có thể ăn một miếng nhỏ).
  • Là một loại nấm nguy hiểm. Mọc ở những khu rừng ẩm ướt. Có tính xổ mạnh
Nấm phiến đốm bướm (Panacolus papilionaceus): thường mọc trên các bãi phân trâu bò mục.

Nấm phiến đốm vân lưỡi (Panaceolus retirugis): cũng mọc trên những nơi có phân súc vật.

Nấm vàng (Hypholoma fasciulare): thường mọc từng đám lớn trên cây mục.

Tham quan nông trại nấm Linh Chi Trường Thọ Bu-yeo












Nấm Linh Chi và Nhân Sâm

Từ hơn 4000 ngàn năm trước, ở Trung Quốc, nấm Linh Chi đã được coi như một loại thần dược chỉ dành riêng cho các bậc vua chúa. Vì thế Linh Chi còn có nhiều tên gọi khác nhau như : Bất lão thảo, Thần tiên thảo, Vạn niên, nấm Thần Lim... Ngày nay, nấm Linh Chi đã được khai thác, trồng trọt và chế biến thành các sản phẩm đắt giá với quy mô công nghiệp.
Một loại dược thảo thiên nhiên khác đó là nhân sâm, một loại rễ cây có hình dáng hơi giống cơ thể con người. Từ lâu, nhân sâm được gán cho nhiều đặc tính bồi bổ sức khoẻ và trị liệu bệnh tật, kể cả việc cứu sống sinh mạng con người mà hiếm có loại dược thảo nào sánh kịp.
Mỗi năm, thế giới tiêu thụ hàng trăm tấn Linh Chi, Nhân Sâm dưới dạng thực phẩm, hay dược phẩm. Nhờ khả năng làm gia tăng tính miễn dịch của cơ thể, Linh chi và Nhân sâm đã góp phần không nhỏ vào công việc nghiên cứu ngăn ngừa, điều trị AIDS, ung thư, tim mạch, tiểu đường, hô hấp... những căn bệnh đang có chiều hướng gia tăng trong khi giới y học chưa có biện pháp phòng chống, chữa trị hiệu quả, nếu không muốn nói là vô phương cứu chữa.
Có bao nhiêu loại nấm Linh Chi ?
Theo “Thần Nông bản thảo kinh” viết cách đây hơn 2000 năm thì loại nấm hoang thường mọc ở những vùng rừng núi Á Đông ẩm ướt có tác dụng chữa bệnh kỳ diệu chính là Linh Chi. Đời Minh, nhà y dược học Lý Thời Trân trong “Bản thảo cương mục” cũng đã nói: “Linh Chi có tác dụng tối ưu hóa quá trình tuổi, tức là làm cho cơ thể khỏe mạnh, lâu già, tăng tuổi thọ. Như dân gian đã có câu: “Linh Chi dùng lâu ngày, mình nhẹ, trẻ mãi như thần tiên”.
Linh Chi là loại nấm gỗ có tên khoa học là Ganoderma licidum. Về hình thức, đó là một loại nấm có mũ đính bên, quả thể nấm khi non thường có màu trắng, sau thành vàng đến màu nâu nhạt. Theo đông y, tên của Linh Chi có thể đặt tùy theo màu sắc của nó: Bạch chi - màu trắng, Hoàng chi - màu vàng, Thanh chi - màu xanh... Mỗi màu đặc trưng cho một tác dụng dược lý khác nhau. VD: Thanh Chi có vị chua, không độc, chữa sáng mắt,, bổ gan, khí an thần, tăng trí nhớ. Hồng Chi, màu đỏ, vị đắng, không độc, tăng trí nhớ, dưỡng tim. Hoàng Chi, vị ngọt, không độc, an thần, tích tỳ khí. Bạch Chi, vị cay, không độc, ích phổi, thông mũi, cường ý chí, an thần. Hắc Chi vị mặn, không độc, trị chứng bí tiểu, ích thận. Tử Chi vị ngọt không độc, trị đau nhức khớp xương - gân cốt...
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới: trong quả thể cũng như khuẩn ty nấm có gần 100 chất. Các nhóm chất và các chất có hoạt tính sinh học là: Protein, polysacchrrid, tritepen, steroid, alcaloid, nucleotid, axit béo, enzim kháng sinh và các nguyên tố khoáng. Đặc biệt có các hoạt chất quý: axit gannoderic, sesium, gecmanium (lớn gấp 20 lần ở nhân sâm)... Về mặt hoạt tính dược lý: Các hoạt chất thuộc nhóm axit béo có khả năng ức chế giải phóng Histamin. Nhóm nucleotid ức chế kết dính tiểu cầu, thư giãn cơ, giảm đau. Nhóm protein chống dị ứng phổ rộng, điều hòa miễn dịch. Nhóm alealoid trợ tim. Nhóm sterois giải độc gan, ức chế sinh tổng hợp cholesterol. Nhóm polisaccherrid hạ đường huyết. Nhóm polisacc chống ung thư tăng tính miễn dịch, tăng tổng hợp protein, tăng chuyển hóa axit nucleic và trợ tim. Nhóm triterpen hạ huyết áp ức chế ACE bảo vệ gan, chống khối u. Linh Chi có tác dụng làm tăng hệ thống miễn dịch, chống các tế bào lão hóa, khử các gốc oxy tự do, sửa chữa cấu trúc ADN (gen) bị hỏng, trung hòa các chất độc, bảo vệ gan ngừng tổng hợp cholesterol, trung hòa virus, ức chế một số vi khuẩn gây bệnh, tác động vào trung ương thần kinh, làm giảm đau và phục hồi những dây thần kinh đã bị hỏng và kéo dài tuổi thọ (Willard 1990). Mặt khác Linh Chi còn khắc phục được những tác dụng có hại của hóa trị liệu và liệu pháp chiếu tia trong điều trị ung thư (Kupin 1993). Ngoài các tác dụng đã được chứng minh từ lâu đối với các bệnh ung thư phổi, ung thư vú và ung thư dạ dầy, gần đây người ta còn thấy nó có tác dụng với ung thư tử cung, ung thư khoang miệng, ung thư đại tràng, ung thư gan... Đặc biệt nếu kết hợp với hóa trị liệu thì sẽ có kết quả nhanh hơn. Vì vậy mà từ năm 1993 chính phủ Nhật Bản đã chính thức đưa Linh Chi vào điều trị ung thư tại các trung tâm chống ung thư. Năm 1998, Nhật Bản đã thành công vào việc chữa trị khối bệnh cho 300 bệnh nhân bằng nấm Linh Chi, dựa trên nguyên tắc điều hòa miễn dịch mà không có một tác dụng phụ nào (Side - effects). Ông Morishige - giáo sư tiến sĩ y khoa của Nhật đồng thời cũng là chuyên gia trong lĩnh vực này đã nói: “Tôi chưa thấy một chất nào có tác dụng ngăn ngừa và điều trị ung thư như nấm Linh Chi”. Ở Trung Quốc, các bệnh viện lớn cũng đã dùng Linh Chi để điều trị bệnh, đặc biệt các bệnh như: ung thư, tim mạch, huyết áp, tiểu đường, hô hấp... Tại bệnh viện Sơn Đông (Trung Quốc) các bệnh nhân bệnh gan và tiết niệu cũng đã được điều trị bằng chế phẩm Linh Chi. Người ta cho bệnh nhân ăn “súp” Linh Chi để giải độc và bổ gan có kết quả trên 90% cho 70.000 trường hợp. Tại đây các bác sĩ còn cho biết: nấm Linh Chi bóng có tác dụng tốt trên đường tiết niệu, điều hòa rối loạn tuần hoàn não, tránh các cơn kịch phát nghẽn và làm dịu thần kinh.
Trong việc thử nghiệm chế phẩm Linh Chi nơi phòng thí nghiệm và trên lâm sàng. Tại phòng thí nghiệm, khi lấy nước chiết từ quả thể, và sinh khối nấm Linh Chi đun dịch chiết, cho khuếch tán trên thạch đĩa, với vi khuẩn kiểm định là G+ và G- đã cho thấy hoạt tính kháng sinh ở quả thể và sinh khối nấm Linh Chi khá mạnh, có khả năng ức chế vi khuẩn G+, G-. Đặc biệt Linh Chi sinh khối cho vòng kháng khuẩn to và rõ nhất. Thực tế, hiện nay trong y học có nhiều loại vi khuẩn đã kháng lại nhiều loại thuốc làm ảnh hưởng tới việc điều trị của bác sĩ, nhưng khi đem thử khả năng chống vi khuẩn của Linh Chi đối với một số vi khuẩn gây bệnh như : Staphylococus aureus gây nhiễm trung máu, Salmonella vi khuẩn gây bệnh thương hàn, Bacillcus, gây độc tố nhiễm độc thức ăn thì kết quả cho thấy kháng sinh của quả thể và sinh khối Linh Chi đã ức chế được các vi khuẩn gây bệnh kể trên. Nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Willard và Fones 1990 cho thấy nước chiết từ quả thể nấm Linh Chi ức chế vi khuẩn Streptococus (tụ cầu khuẩn), Staphylocous, Bacillus pneumoniec (vi khuẩn gây viêm phổi). Về độ độc tính củasinh khối Linh Chi khi thí nghiệm trên chuột nhắt trắng có trọng lượng 18-20 gam, cho chuột uống liều 160g/kg, trọng lượng gấp 800 lần liều dùng cho người mà chuột vẫn không chết. Điều đó chứng tỏ thuốc không có aflatoxin và có độ an toàn cao về độc tính cấp. Đối với lâm sàng: thử trên 300 người, bị các bệnh huyết áp, tim mạch, tiểu đường, tâm thần, động kinh, khối u, ung thư... kết quả Linh Chi có tác dụng tốt với các loại u như: u vú, u tử cung, u gan, u dạ dày, u não, u vòm họng, u đa tủy, tăng bạch cầu cấp, và một số bệnh nhân viêm gan siêu vi trùng. Một số tác dụng khác như say tàu xe, ngộ độc thức ăn, say rượu...
Hiện nay, trên thị trường thế giới đã có bán nhiều loại nấm Linh Chi của Nam Hàn, Nhật Bản, Trung Quốc, kể cả của Mỹ... sản xuất, tuy nhiên giá thành rất cao. Một kilô nấm Linh Chi khô có giá xê dịch từ 50 đến 100 Mỹ kim, tùy theo chất lượng. Hiện nay, ở nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,... đã sản xuất Linh Chi theo phương pháp nuôi trồng nông nghiệp. Tuy nhiên chất lượng của nấm còn phụ thuộc vào việc nuôi trồng nấm trên loại gỗ gì, chủng loại nấm cũng như thời gian thu hoạch. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mỗi năm Nhật Bản thu được 350 triệu USD từ nấm Linh Chi cũng như các chế phẩm của nó. Ngay cả Trung Quốc được coi là nước sản xuất nấm Linh Chi lớn nhất trên thế giới thế mà vẫn có nhu cầu nhập thêm để sử dụng. Ở Nhật Bản, giá 1kg nấm Linh Chi khoảng 200-350 USD, ở Nam Hàn 100 USD, ở Đài Loan có người đã phải mua tới giá cao hơn gấp 10 lần, tức từ 3.000 - 8.000 USD.

Tác dụng y dược của Nhân Sâm




Năm 1833, giới y học dành cho nhân sâm một chỗ đứng trong bảng phân loại dược thảo, với tên khoa học là Panax. Từ Hy Lạp pana có nghĩa “tất cả”, còn axos có nghĩa là “chữa trị”. Do một sự trùng hợp thú vị, từ panax với từ panacae (thuốc trị bách bệnh) có cùng một nguồn gốc. Một văn bản y học Trung Hoa cổ vào thế kỷ V có liệt kê những tác dụng trị liệu của nhân sâm: tăng cường sức mạnh của nội tạng (gan, thận, tim, phổi, tuyến tụy) có tác dụng an thần, chống lại mệt mỏi, suy nhược, nhức đầu, kiệt sức, đổ mồ hôi, tăng cường sức đề kháng với viêm nhiễm và bệnh tật, tăng cường thị lực và khả năng hoạt động tinh thần, kéo dài tuổi thọ... Mới đây, một cuộc nghiên cứu khoa học đã bổ sung cho nhân sâm nhiều tác dụng mới: cấu tạo hồng cầu, bảo vệ cơ thể chống lại chứng thiếu máu, huyết áp thấp, bệnh tim, gia tăng sự tiết dịch của cơ thể chống lại bệnh tiểu đường, bình thường hóa hoạt động của phổi, tăng cường hệ thống dạ dày - ruột, ngăn ngừa bệnh tiêu chảy, táo bón, phòng ngừa sự sưng tấy, viêm nhiễm và những bệnh về da, kích thích tiết hormone để tạo dễ dàng cho việc điều trị các bệnh phụ khoa như đau bụng lúc hành kinh, những triệu chứng của tuổi mãn kinh. Gần đây nhứt, những thử nghiệm lâm sàng tiến hành tại Nhật trên những người mắc bệnh ung thư (đã qua nhiều lần chiếu tia X và hóa liệu pháp) cho thấy nhân sâm giúp bệnh nhân bình phục nhanh, làm gia tăng cơ may sống sót của họ bằng cách khử độc gan và phục hồi khả năng thanh lọc độc tố trong máu của bộ phận này.
Một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào giải thích được những tác dụng trị liệu kỳ diệu đó của nhân sâm? Trong Tây y, vẫn còn một số người xem thường nhân sâm, coi đó như sự lừa bịp của hai thiên niên kỷ tiền khoa học đầy chuyện lố lăng. Tuy thế, nhiều thầy thuốc và nhà nghiên cứu được đào luyện theo Tây y vẫn công nhận tác dụng bồi dưỡng và trị liệu của nhân sâm. Họ đưa ra những lời giải thích về hóasinh, chiết xuất các thành phần của nhân sâm và đặt cho chúng những cái tên đầy tính... nhân sâm: ginsenoside, panaixin, panquilan... Họ nghiên cứu tác dụng của chúng với hệ nội tiết, hệ tuần hoàn và sự sinh sản chất tủy xương. Còn đối với đa số người Á Đông tin tưởng vào công hiệu của nhân sâm thì nguồn gốc sức mạnh của nhân sâm nằm ở... đất. Khoa vũ trụ học của người Trung Hoa cổ coi toàn bộ vũ trụ bị chi phối bởi một sinh lực gọi là chi. Sinh lực này tập trung dưới lòng đất và giải thích tại sao người Trung Hoa và người Cao Ly xưa rất quan tâm đến nơi tống táng những người thân. Họ tin rằng xương cốt của tổ tiên, cha mẹ họ được tống táng ở vùng đất tốt sẽ giúp cho họ thành đạt trong cuộc sống. Chính điều này giải thích nguồn gốc sức mạnh của nhân sâm...
Ở Cao Ly, những người dân sơn cước chuyên tìm sâm được gọi là Shimmani. Trong tiếng Đại Hàn cổ, Shim có nghĩa là nhân sâm, còn maini trong tiếng Phạn có nghĩa là to lớn. Shimmani là những con người lãng mạn, hào hùng, việc làm của họ được ghi nhận trong nhiều huyền thoại và chuyện kể dân gian. Trước khi đi tìm nhân sâm, họ phải tẩy sạch cơ thể bằng cách tắm trong những khe suối trên núi cao và cầu nguyện Sanshil-Ryung (thần núi). Họ tin rằng chỉ có một tấm lòng trong sạch mới đưa họ đến với nhân sâm. Họ cũng phải tránh giao hợp với phụ nữ, không ăn những con thú bốn chân và không giết chết bất cứ một sinh vật nào. Rồi họ kiên trì chờ thần núi hiện ra trong mơ và chỉ cho họ nhân sâm ẩn kín nơi nào trong núi. Khi được sự hướng dẫn của Thần núi, các Shimmani đi tìm sâm vào ban đêm, định vị sâm nhờ ánh hào quang của nó phát ra và dùng một cây gậy đánh dấu nơi có sâm. Sáng hôm sau, sau một loạt nghi thức để cảm tạ thần núi, họ bắt đầu đào lấy củ sâm, một công việc hết sức tinh tế để tránh làm tổn thương, dù là một sợi rễ nhỏ nhất. Xong việc, các Shimmani đặt củ sâm đào được trong một chiếc hộp bằng gỗ và đi xuống núi, tránh không nói chuyện với ai. Có một điều cấm kỵ, đó là các Shimmani không được mang theo bất cứ thứ vũ khí nào trừ gậy, dù họ dễ dàng bị thú dữ hay bọn cướp rừng đe dọa. Bù lại, nếu thoát được những hiểm nguy trong hành trình đi tìm sâm, các Shimmani sẽ được tưởng thưởng xứng đáng với công sức bỏ ra. Chỉ cần bán một củ sâm hàng trăm năm tuổi còn nguyên vẹn, một Shimmani có thể nuôi sống cả gia đình một năm liền. Do nhu cầu về nhân sâm ngày càng tăng cao mà các Shimmani mỗi ngày phải đi xa hơn trong rừng sâu mới có sâm, nên ngày nay phần lớn sâm trên thị trường nội địa tại Nam Hàn hay xuất khẩu ra nước ngoài đều là sâm do con người trồng trọt. Để tránh cho cây sâm không phải tiếp xúc trực tiếp với mưa, nắng và gió, các nông gia Nam Hàn trồng chúng dưới những nhà lợp tranh xếp thành từng hàng dài, nhất là ở đảo Kanghwa. Sâm trồng cần từ 4 đến 6 năm để trưởng thành. Chúng hút hết mọi chất dinh dưỡng từ đất đến mức hàng chục năm sau khi thu hoạch xong, không có loại cây nào còn có thể sinh sống được trên đất đã trồng sâm.

22 tháng 7, 2008

Giảm béo với lá sen


Các chất trong lá sen giúp thiêu đốt lượng mỡ trong cơ thể.
Thời Minh (Trung Quốc) từng có ghi chép: Lá sen giúp gầy người. Đến nay, lá sen được coi là phương thuốc giảm béo an toàn.

Về hóa học: Lá sen chứa 0,2 - 0,3% tanin, 0,77 - 0,84% alcaloid, trong đó có nuciferin (chủ yếu), nor - nuciferin, roemerin, pro - nuciferin, vitamin C, các acid citric, tartric, succinic. Ngoài ra, còn có quercetin, isoquercitrin, nelumbosid, leucocyanidin, leuco - delphinidin.

Về dược lý: Lá sen đã được nghiên cứu chứng minh có tác dụng an thần, chống co thắt cơ trơn, chống choáng phản vệ, ức chế loạn nhịp tim. Thân và lá sen có tác dụng thông tiểu, lợi đại tiện.

Giảm béo với lá sen cần chú ý những điểm sau:

Trà lá sen đậm đặc: Để đạt được hiệu quả như ý bạn nên pha trà thật đậm đặc.

Mỗi túi trà dùng cho một cốc nước: Mỗi ngày uống 3-4 túi trà lá sen, mỗi túi dùng cho một cốc. Nếu bạn bí đại tiện thì trong tuần đầu tiên nên uống 1 ngày 4 túi trà. Sau khi đại tiện thông thì hiệu quả giảm béo cũng phát huy. Tốt nhất nên uống lúc bụng đói, trước khi ăn cơm.

Không phải kiêng ăn: Sau khi uống trà lá sen một thời gian sở thích ăn uống của bạn sẽ thay đổi. Rất nhiều người không còn ưa thích những món rán nhiều mỡ nữa. Vì thế bạn không phải khổ sở kiêng ăn để giảm béo mà cơ thể tự “kiêng ăn” hộ bạn.

Ngoài ra, không cần đun nước trà. Chỉ cần bỏ túi trà vào ấm hoặc vào cốc to, sau đó đổ nước nóng vào. Tốt nhất ngâm túi trà 5-6 phút rồi uống, như thế nước trà sẽ đậm đặc hơn.

25 tháng 7, 2005

Linh Chi thời cổ đại đến những khám phá khoa học



Từ huyền thoại nấm Linh Chi thời cổ đại đến những khám phá khoa học mới…

Cali Today News - Từ hàng ngàn năm qua, người Trung Hoa – những vị vua thuốc Bắc – đã vô cùng quý giá nấm Linh Chi (Lingzhi), Linh Chi thảo,… và nấm Linh Chi được xem là Hoàng đế huyền nhiệm trong các loài thảo dược (Miraculous King of Herbs) trong khoa thuốc Bắc Đông Phương.

Nó được xem là loại Dược Thảo Huyền Nhiệm (Magic Herbal Medicine) trong đời sống sức khỏe của con người.

Các vị vua và những nhà quý phái của Đông phương trong hàng ngàn năm qua tìm kiếm dược thảo Linh Chi để cuộc sống được GIA TĂNG KHỎE MẠNH, GIA TĂNG TRƯỜNG THỌ, và GIA TĂNG KHẢ NĂNG TỰ CHỮA LÀNH BỆNH HOẠN…

Từ lâu, những tính chất và công dụng quan trọng của Linh Chi đã được các sách Y học cổ của Trung Hoa nhấn mạnh đến như trong các cuốn sau đây:

- Sheng Nung Herbal Medicine (sách Y khoa dược thảo Sheng Nung)
- Outline of Herbal Medicine (Đại cương Y khoa dược thảo).

Tính chất thần diệu của Linh Chi được bao bọc bằng một lớp võ bí ẩn trong hàng ngàn năm qua, và từng nổi tiếng về công dụng tạo ra MỘT CUỘC SỐNG TRẺ TRUNG VÀ TRƯỜNG THỌ… thế nhưng chưa ai nghiên cứu kỹ một cách khoa học những tính chất này của LINH CHI…

May mắn thay trong vài năm qua, các nhà nghiên cứu Trung Hoa và ngoại quốc đã có những công trình nghiên cứu quan trọng (attentive research), đã thực hiện những phân tích hợp tác (cooperative analysis), thực hiện những thí nghiệm trong bệnh viện (clinical experiments) do các bệnh viện, trường đại học và hãng bào chế dược phòng tiến hành,… và nhờ thế, cuối cùng, những đặc tính trị liệu của Linh Chi mới được phát hiện qua góc độ y học hiện đại. Những đặc tính đó là:

- Hemocathasis
- Detoxifies (thải độc chất ra khỏi cơ thể)
- Diuretic (lợi tiểu)
- Liver protector (tính chất bảo vệ gan),
- Intestine regulator (tính chất điều hòa ruột)
- Cardio tonic (bỗ tim)
- Blood pressure adjuster (điều chỉnh huyết áp)
- A cold tonic
- Anti-tussis
- Expectorant
- Transquilier
- Anti-tumor drug (dược tính chống ung bướu),…

Tại sao chúng ta cần uống Linh Chi

Hầu hết bệnh tật và những chứng bệnh kinh niên đều do sự mất quân bình của các chức năng cơ thể gây ra do tích lũy độc tố trong cơ thể.

Linh Chi giúp chúng ta khả năng “kiểm soát y khoa của cơ thể” (medical check-up) và phát hiện những bệnh tật đang tiềm ẩn trong cơ thể của chúng ta. Sau khi Linh Chi “khám bệnh và phát hiện bệnh” đang tiềm ẩn trong cơ thể của chúng ta rồi thì nó sẽ giúp thải những độc tố (remove toxins) ra khỏi cơ thể, tạo cho cơ thể trở thành vị “bác sĩ xuất sắc nhất” (best doctor) để có thể điều trị nhiều loại bệnh khác nhau bằng chính hệ thống miễn nhiễm tự nhiên trong cơ thể của chúng ta.

Những chức năng căn bản của Linh Chi là:

1. Lọc sạch máu huyết
2. Lọc và thải độc tố ra khỏi cơ thể
3. Gia tăng chức năng của thận
4. Bảo vệ gan
5. Tăng cường sức mạnh của quả tim
6. Giữ gìn cột sống
7. Phòng chống ung thư,…

Chức năng và các thành phần quan trọng của Linh Chi

- Polysaccharide dan Organic Germanium: Chất này giúp cải tiến khả năng tự chữa lành bệnh của cơ thể, và thiết lập một hệ thống miễn nhiễm mạnh. Chất này có khả năng phòng chống ung bướu, ngăn chận sự suy thoái của các bộ phận nội tạng, và tăng cường sinh lực cho các tế bào, gia tăng khí oxy cho hệ thống huyết quản, thải các tế bào chết và các độc chất,…

- Adenosine: Giúp khống chế việc hình thành những cục máu (blood clots), gia tăng việc luân lưu máu huyết, hạ thấp cholesterol và giảm mỡ trong máu, cải tiến chức năng cortex của tuyến adrenal nhằm duy trì sự quân bình của endocrine, điều tiết metabolism và làm cho chúng ta cảm thấy trẻ trung hơn, tràn đầy sinh lực và giúp duy trì khả năng quân bình pH của khí huyết.

- Triterpenoids: Tăng cường hệ thống tiêu hóa, phòng chống các bệnh dị ứng, giảm cholesterol, và gia tăng sinh lực của các nhân tế bào cơ thể,…

- Chất Ganoderic: Trẻ trung hóa các cơ của cơ thể, duy trì chức năng của cơ thể, gìn giữ sự tươi trẻ, khắc phục các căn bệnh về da và làm làn da của chúng ta đẹp hơn,… Ngoài ra, chất này còn có công dụng chữa bệnh ngoài da như trị thương, ung thư miệng, và ngăn chận chảy máu,…

Linh Chi hoạt động thế nào?

Công dụng của Linh Chi trên cơ thể của chúng ta được chia ra làm 5 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: (1-30 ngày)

Linh Chi giúp phát hiện những căn bệnh và độc tố tiềm ẩn trong cơ thể và tiến hành việc điều hòa các chức năng của cơ thể. Trong thời gian này, cơ thể sẽ cho thấy những triệu chứng mà chúng ta biết đến như là hiện tượng “phản ứng bệnh tật” (ailment reflection). Những phản ứng này không phải là “phản ứng phụ” (side effect), nhưng những phản ứng này giúp phân biệt khu vực bị đau trên cơ thể. Đây là tính chất tìm kiếm và phát hiện (scanning effect) bệnh của Linh Chi.

- Giai đoạn 2: Lọc và sa thải chất độc (1 đến 30 tuần)

Linh Chi được biết đến như là “Vua sa thải chất độc” trong cơ thể vì khả năng tuyệt vời của nó trong việc sa thải các chất uric acid dư thừa, lactic acid dư thừa, cholesterol dư thừa, lớp mỡ, tissue chết, và độc tố tích lũy trong cơ thể,… ra khỏi cơ thể. Độc tố được loại thải ra khỏi thận, gan hay những nội tạng khác qua hệ thống tuần hoàn như tiểu, mồ hôi,…

- Giai đoạn 3: Điều chỉnh… (1-12 tháng)

Trong tiến trình hồi phục này, chúng ta có thể thấy những phản ứng của cơ thể. Đừng lo lắng. Đây là giai đoạn cơ thể tự trị liệu. Nếu phản ứng quá mạnh, thì giảm liều lượng xuống mà thôi.

- Giai đoạn 4: Xây dựng và phục hồi

Linh Chi sẽ tiếp tục điều trị những bộ phận cơ thể bị yếu, bệnh và gia tăng hệ thống miễn nhiễm giúp hệ thống này gia tăng tính đề kháng trước bệnh tật. Linh Chi cũng cung cấp cho cơ thể những yếu tố căn bản và sinh tố cho việc phục hồi nhanh chóng của cơ thể.

- Giai đoạn 5: Trẻ trung hóa
Mục tiêu tối hậu của uống Linh Chi là nhằm duy trì các chức năng của cơ thể ở mức độ tối thượng của nó cũng như mang lại sự tươi trẻ của cơ thể chúng ta.

Những nguyên tắc Y khoa của Linh Chi

Theo những thử nghiệm y viện của bác sĩ Shigeru Yuki, thì những nguyên do mà Linh Chi trở thành một dược thảo hiệu quả vì những công dụng căn bản như sau:

1. Hạ cholesterol trong máu và số lượng mỡ dư thừa

2. Giảm mức đường trong máu và vãn hồi các công dụng của pancreas.

Công dụng của Linh Chi

Cũng như Nhân sâm, Linh chi, tên khoa học Ganoderma Lucidum Karst họ Ganodermartaceae là loạI thuốc quý hiếm,quý hơn cả Nhân sâm được Dân gian dùng từ xa xưa để duy trì , bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổI thọ.
Theo công trình nghiên cứu mớI nhất, Linh chi gồm 6 lọai : Thanh Chi, Hồng Chi, Hoàng Chi, hắc Chi, Tử Chi, Bạch Chi. Hỗn hợp sáu loạI Linh chi trên có những công dụng sau: Tăng cường sinh lực, lọc mỡ trong máu, điều hòa và ổn định huyết áp, giúp khí huyết lưu thông, giúp các tế tào hấp thu oxy tốt hơn, tăng cường sự miễn dịch của cơ thể, có tác dụng trên một số bệnh như đau thắt cơ tim, bệnh ở mạch vành của tim, viêm phế quản, thấp khớp, viêm gan cấp và mãn tính, chủ trị bí tiểu tiện, sỏi thận , đau nhức khớp xương, gân cốt, sáng mắt, an thần, tăng cường trí nhớ, bệnh phụ nữ vào thời kỳ mãn kinh, bệnh đường tiêu hóa, cô lập và diệt các tế bào ung thư, dùng lâu ngày giúp nhẹ mình , tăng cường tuổI thọ.

Nấm linh chi có thể chữa ung thư tuyến tiền liệt


Nhóm nghiên cứu đã phát hiện các phân tử trong nấm linh chi (tên khoa học là Ganoderma lucidum) giúp ngăn cản một vài cơ chế liên quan đến sự phát triển của khối u ở bộ phận này.

"Chúng tôi biết rằng loài nấm này có thể cản trở sự phát triển của khối u bằng cách tác động lên hệ miễn dịch. Nhưng các thử nghiệm trong ống nghiệm mà chúng tôi đã làm cho thấy nó trực tiếp tấn công vào tế bào ung thư", trưởng nhóm nghiên cứu Ben Zion Zaidman nói.

"Kết quả này mở ra hy vọng phát triển các loại thuốc chữa ung thư tiền liệt tuyến", ông cho biết.

Nghiên cứu hiện mới dừng lại ở trong các đĩa thí nghiệm. Họ sẽ tiếp tục thử nghiệm trên động vật.

Nấm linh chi thường sống ở các vùng hoang dã xa xôi, trên các thân cây mận đang phân huỷ, đôi khi là trên cây sồi, trong những rừng rậm.

Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những dạng ung thư phổ biến nhất ở đàn ông, với hơn 543.000 người được chẩn đoán mỗi năm trên toàn thế giới.



Linh chi tác động đến sức khỏe như thế nào?


Tuy được xếp vào nhóm thuốc bổ thượng phẩm nhưng nấm linh chi không có chất đạm cần thiết cho cấu trúc của tế bào, không chứa chất cải thiện chức năng tiêu hóa, cũng không mang hoạt chất có tính an thần.

Không phải chỉ đến khi Tần Thủy Hoàng phái ngự y Lư Sinh tìm thuốc trường sinh bất tử ở biển Đông thì linh chi mới có mặt trong lịch sử y học. Từ nhiều ngàn năm nay, linh chi chiếm vị trí cao nhất trong cổ thư Trung Quốc. Vì thế, nó không còn xa lạ với thầy thuốc bốn phương và từ lâu đã có tên chính thức trong dược điển của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… như một phương thuốc trị ung thư

Không chỉ được trọng dụng ở Á Đông, linh chi hiện là một trong những đề tài nghiên cứu và ứng dụng nóng bỏng của ngành y dược Âu Mỹ. Y học phương Tây ắt hẳn phải có động cơ chính đáng khi tìm về một dược liệu ở bên kia chân trời.

Tuy được xếp vào nhóm thuốc bổ thượng phẩm của Trung y nhưng giá trị bổ dưỡng của linh chi không đồng nghĩa với tác dụng kiến tạo kiểu “vai u thịt bắp” mà miếng thịt hay quả trứng mang lại. Đã có không biết bao nhiêu người sử dụng linh chi cảm thấy khỏe hơn, ăn ngon, ngủ yên; nhưng khi phân tích thì linh chi không có chất đạm cần thiết cho cấu trúc của tế bào, không chứa chất cải thiện chức năng tiêu hóa, cũng không mang hoạt chất có tính an thần. Khả năng nâng đỡ tổng trạng của linh chi là một thực tế không thể chối cãi, không chỉ căn cứ vào cảm giác chủ quan của người bệnh, mà dựa trên các tiêu chuẩn khoa học khách quan với định lượng rõ ràng, theo kết quả của hàng trăm công trình nghiên cứu tại nhiều học viện từ Á sang Âu. Nếu vậy, linh chi tác dụng theo cơ chế nào?

Cấu trúc độc đáo của linh chi chính là thành phần khoáng tố vi lượng đủ loại, trong đó một số khoáng tố như germanium, vanadium, crôm… Chúng đã được khẳng định là nhân tố quan trọng cho nhiều loại phản ứng chống ung thư, dị ứng, lão hóa, xơ vữa, đông máu nội mạch, giúp điều chỉnh dẫn truyền thần kinh, bảo vệ cấu trúc của nhân tế bào. Có căn bệnh nào hiện nay thoát khỏi ảnh hưởng của các yếu tố bệnh lý vừa kể?

Với thành phần độc đáo như vừa tả, linh chi phục hồi cơ thể bằng cơ chế tác dụng gián tiếp. Trái với chức năng cung cấp dưỡng chất theo kiểu “thiếu thì bổ sung” của các loại thuốc bổ thông thường, linh chi hữu ích cho cơ thể nhờ chọn con đường vận hành khéo léo và linh động hơn nhiều qua kiểu đòn bẩy. Nó một mặt thanh lọc cơ thể toàn diện và đồng bộ qua tác dụng lợi tiểu và lợi mật, một mặt kích thích nhiều chuỗi phản ứng sinh hóa trong cơ thể nhờ vai trò xúc tác của khoáng tố vi lượng. Linh chi khéo léo đánh thức sức đề kháng của cơ thể để từ đó điều chỉnh các rối loạn chức năng, làm lành các tổn thương cơ quan, phục hồi hệ miễn dịch. Một khi hội đủ 3 điều kiện vừa kể thì cơ thể rất khó bệnh, con người chậm già. Người xưa đâu có quá lời khi xếp linh chi vào nhóm thuốc cải lão hoàn đồng!

Nếu dựa vào hàng trăm báo cáo chuyên đề trong các hội nghị quốc tế về hiệu quả của linh chi thì vấn đề đặt ra “linh chi có tác dụng hay không” quả là thừa. Nếu căn cứ vào con số bệnh nhân từ Đông sang Tây đã và đang được điều trị rất hài lòng với linh chi, thì mọi thắc mắc về cơ sở khoa học của linh chi không còn cần thiết. Nhưng có một điều chắc chắn: Linh chi không phải là thần dược giúp sống lâu trăm tuổi, trẻ mãi không già như quảng cáo hoặc ảo vọng của bạo chúa họ Tần. Trên nền tảng tri thức khoa học, nếu biết cách áp dụng linh chi, đó sẽ là một trong các phương tiện hữu hiệu và an toàn để tăng cường sức đề kháng cơ thể trong cuộc sống đầy căng thẳng và ô nhiễm môi trường nặng nề của thế kỷ 21.

Vấn đề cuối cùng, đó là liệu linh chi Việt Nam có tác dụng không hay phải là linh chi nước ngoài thì mới nên thuốc? Một câu hỏi hoàn toàn có lý, vì không phải linh chi nào cũng là thuốc và điều trăn trở của người bệnh chính là làm sao tìm được linh chi có chất lượng.

4 tiêu chuẩn chọn linh chi

Nên dùng linh chi được gieo trồng chuyên nghiệp vì chất lượng ổn định, bảo đảm hiệu quả và không có phản ứng phụ bất lợi. Trái với quan niệm của nhiều người, linh chi mọc hoang lại không an toàn, vì hiện nay con người khó kiểm soát được sự ô nhiễm môi trường.

Chỉ nên mua linh chi có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Đừng xuôi lòng trước những quảng cáo đường mật như linh chi… trên rừng, trên núi.

Linh chi chất lượng tốt thì hai mặt không bị mọt, mặt dưới có màu từ vàng chanh nhạt đến trắng. Mặt dưới linh chi có màu vàng nghệ thường không tốt, vì đó không phải là màu tự nhiên của nấm.

Nếu dùng linh chi nấu nước uống, nên chọn nấm có kích thước vừa phải, đường kính 8-20 cm. Ở kích cỡ này, nấm chưa bị hóa gỗ hoàn toàn, hàm lượng các hợp chất polysaccharide và triterpen còn cao nên dễ ly trích khi nấu trong nước. Các công ty dược phẩm trên thế giới khi chiết xuất hoạt chất của linh chi để sản xuất dược phẩm cũng chỉ dùng nấm theo tiêu chuẩn trên.


Thuốc quý toàn thân

Trong cuốn “Thần nông bản thảo” của Trung Quốc đã viết: “Linh chi là thuốc kết tinh được cái quý của mây mưa trên núi cao, cái tinh của ngũ hành trong ngày đêm mà khoe năm sắc nên có thể giữ sức khoẻ cho các bậc đế vương”. Tới thế kỷ 16, Lý Thời Trân gọi Linh chi là loại “Cây cỏ tốt lành. Ăn nhiều lần, cơ thể nhẹ đi mà không già, sống lâu như thần tiên”.

Có tác dụng như vậy là do Linh chi có tác dụng điều hoà mọi chức năng của cơ thể. Tác dụng của Linh chi không giới hạn ở một cơ quan, nội tạng mà phát huy toàn cơ thể.

Có thể dùng Linh chi dài ngày để củng cố, tăng cường sức khoẻ, phòng bệnh từ xa và có tác dụng chống sự phát triển của tế bào ung thư, làm giảm cơn đau của bệnh nhân đã di căn. Nhiều nhà khoa học lớn khẳng định rằng Linh chi cùng một số dược liệu khác có thể chữa được bệnh ung thư.

Mỹ phẩm từ thiên nhiên

Trong kết quả nghiên cứu dược tính có viết Linh chi còn giúp cơ thể thanh trừ các gốc tự do và chống lão hóa. Gốc tự do là các sản phẩm có hại của quá trình chuyển hoá tế bào. Linh chi có tác dụng thanh trừ loại sản phẩm này, làm giảm chất mỡ trong cơ thể, từ đó có khả năng làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ. Chính các thầy lang trước đây cũng đưa Linh chi vào bài thuốc làm đẹp cho phụ nữ. Các vương tôn, quý tộc trong triều đại phong kiến còn dùng Linh chi như một thứ mặt nạ đắp mặt cho làn da trắng, mịn màng hơn.

Trong quá trình nghiên cứu các dưỡng chất từ thiên nhiên, các nhà nghiên cứu của Menard luôn mong muốn khai thác được khả năng làm đẹp cho phụ nữ của Linh chi. Những nghiên cứu ban đầu tập trung vào Linh chi đỏ. Kết quả cho thấy Linh chi đỏ có rất nhiều công dụng cho da. Đưa hoạt chất Linh chi vào bào chế thử nghiệm mỹ phẩm, các nhà nghiên cứu thu được những sản phẩm với hiệu quả rất đặc biệt với chất lượng tốt nhất.

Từ đó, Menard quyết định đầu tư nghiên cứu chuyên sâu loại dược liệu này. Cũng chính nhờ vậy, Menard nhận thấy: Linh chi không chỉ có một loại, và mỗi loại Linh chi cho những tính năng đặc biệt riêng.

Cuối cùng, hai loại Linh chi hàng đầu - Linh chi đen và Linh chi đỏ - được vào dòng sản phẩm Menard Embellir nhằm hồi phục sức sống của các tế bào, trẻ hoá làn da.


CỔ LINH CHI

NHẬN DẠNG CỔ LINH CHI :

Linh Chi tên khoa học là Galodermalucidum - còn được gọi là Linh Chi Thảo, nấm Trường Thọ, Nấm Lim, Thuốc Thần Tiên... Lý Thời Trân, tác giả bộ Bản thảo Cương mục nổi tiếng trên thế giới (lần đầu tiên in năm 1595) cũng đã giới thiệu vị Linh Chi với khoảng 2000 từ và liệt kê 6 loại Linh Chi mang màu sắc, tên gọi khác nhau :

Thanh Chi (Linh Chi màu xanh), Hồng Chi (Linh Chi màu hồng), Hoàng Chi (màu vàng), Bạch Chi (còn gọi Ngọc Chi - màu trắng), Hắc Chi (màu đen), Tử Chi (màu tím). Về thực vật học, người ta xác định Linh Chi là một loài nấm hoá gỗ có cuống dài hoặ ngắn, mũ nấm có dạng hình thận, hình tròn hay hình quạt, cuống thường cắm không ở giữa mũ nấm mà cắm lệch sang một phía mũ. Hình trụ tròn hay dẹt có thể phân nhánh cuống và cuống có màu khác nhau tuỳ theo loài, loài đỏ thay đổi từ nâu đến đỏ vàng, đỏ cam, mặt trên bóng loáng như đánh vẹc-ni, trên mặt mũ có những vân đồng tâm. Theo những công trình nghiên cứu mới nhất của Viện Nghiên cứu Linh Chi hoang dại của Trung Quốc thì trong hổn hợp 6 loại Linh Chi có hàm lượng germanium cao hơn lượng germanium có trong nhân sâm từ 5-8 lần. Germanium giúp khí huyết lưu thông, các tế bào hấp thụ oxy tốt hơn. Lượng polysacarit cao có trong Linh Chi tăng cường sự miển dịch của cơ thể, làm mạnh gan, cô lập và diệt tế bào ung thư. Axit ganoderic có tác dụng chống dị ứng và chống viêm....

* MỘT VÀI KINH NGHIỆM PHÂN BIỆT CỔ LINH CHI VÀ LINH CHI ĐƠN NIÊN :

  • Cổ Linh Chi : là những tai nấm đã được hoá sừng ở mũ nấm (độ 2-3cm) cứng như đồi mồi, phía bên dưới (thịt nấm) hoá gỗ, có những ốn nấm rõ ràng, phát triển ống nấm từ 1-2mm/năm. Sau khi ngừng phát triển mới bắt đầu hoá sừng hoá gỗ.

  • Linh Chi hoang dại đơn niên : trông hình thức cũng tương tợ như Cổ Linh Chi nhưng xốp (có thể dùng móng tay bấm thủng) khi bị phân huỷ thì thịt nấm biến thành màu trắng (như vôi). Sau khi được thu hái về nếu không sử dụng cũng tự phân huỷ.