Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học và Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học và Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

6 tháng 8, 2009

Những lợi ích kỳ diệu của rượu vang đỏ


Tại sao các thầy thuốc lại đưa ra lời khuyên mọi người nên dùng rượu vang đỏ một cách hợp lý? Tại sao hàng triệu người trên hành tinh vẫn ưa chuộng loại thức uống này, trong số đó có rất nhiều người là phụ nữ. Và tại sao trong những bữa tiệc long trọng, người ta vẫn dùng rượu vang đỏ như một thứ uống khai vị? Những thông tin sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu rõ điều đó một cách sâu sắc.


Rượu vang đỏ được chiết xuất từ nhiều giống nho đỏ khác nhau. Nước ép từ thịt quả nho là thứ nước không màu. Màu của rượu phụ thuộc vào màu của vỏ quả nho và thời gian vỏ nho tiếp xúc với nước ép nho.
Rượu vang đỏ được nhiều người ưa chuộng vì nó có những hương vị đặc trưng. Đó là mùi nho khô, hay mùi dâu tây, mùi anh đào, mùi quả mâm xôi, mùi bánh mỳ nướng, mùi côca và mùi cam thảo... Và hơn hết, các thành phần trong rượu vang đỏ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật. Theo một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Pháp, rượu vang đỏ có 3 cơ chế tác dụng: Phòng chống ôxy hóa, giãn mạch và chống huyết khối.


Phòng chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ

Các nhà nghiên cứu trường Đại học Y Harvard và Viện Lão hóa quốc gia Mỹ cho rằng, thành phần tự nhiên có trong rượu vang đỏ có thể giúp kéo dài tuổi thọ và ngăn cản các yếu tố nguy cơ bất lợi cho sức khỏe, do chế độ ăn nhiều chất béo gây ra. Hợp chất resveratol có nhiều trong rượu vang đỏ có tác dụng kéo dài tuổi thọ. Chất chống ôxy hóa flavonoid trong rượu vang đỏ có tác dụng kích hoạt enzym, làm chậm quá trình lão hóa. Được biết, chất này trong rượu vang đỏ cao gấp 15-20 lần so với hoa quả. Với phụ nữ, cứ vài ngày đều đặn uống 1 ly rượu vang đỏ giúp kéo dài tuổi thọ.

Chống béo phì

Các nhà khoa học thuộc Hội Nội tiết Mỹ cho biết, hợp chất resveratol trong rượu vang đỏ có thể làm giảm lượng tế bào chất béo trong cơ thể. Hợp chất này đã khiến cho các preadipocytes phát triển không bình thường, ngăn chúng biến thành các tế bào mỡ hoàn thiện và ngăn chặn sự tích lũy chất béo trong cơ thể. Như vậy, hợp chất resveratol có đặc tính chống béo phì bằng cách tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp lên tế bào mỡ trong cơ thể.
Thú vị hơn, chất này còn làm giảm sự tiết ra cytokin - một chất điều chỉnh sự phản ứng của hệ miễn dịch và liên quan đến sự phát triển của bệnh béo phì và tiểu đường. Mỗi ngày bạn chỉ cần uống 2 ly rượu vang đỏ có thể làm giảm được 20-30% lượng calo, vì thế, có tác dụng giảm béo


Phòng ngừa ung thư

Các nhà khoa học trường Đại học Santiago de Compostela (Tây Ban Nha) đã tiến hành một số nghiên cứu, và họ đã nhận ra rằng, chất tannins và resveratol trong rượu vang đỏ có tác dụng phòng ngừa ung thư phổi và ung thư tiền liệt tuyến. Được biết, tannins hoạt động như một tác nhân nhằm chống ôxy hóa, nó "càn quét" các hạt cơ bản vốn có hại cho tế bào. Trong khi đó resveratol có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các khối u.
Nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học Mỹ được tiến hành với 1.742 người, chia thành 3 nhóm: Nhóm uống rượu vang đỏ 3 cốc/tuần, nhóm uống rượu vang trắng và nhóm không uống loại rượu nào. Kết quả, nhóm người không uống rượu có nguy cơ bị ung thư đường ruột là 9,9%, người uống rượu trắng nguy cơ này là 8,9% và nhóm người uống rượu đỏ nguy cơ này chỉ 3,4%.


Phòng chống bệnh tim mạch và đột quỵ

Các nhà khoa học Anh vừa phát hiện ra các thành phần polyphenol của rượu vang đỏ có thể ức chế quá trình tổng hợp một loại protein liên quan tới bệnh tim mạch. Điều này cũng giải thích vì sao người Pháp thường xuyên uống rượu vang đỏ và tỷ lệ mắc bệnh tim của người Pháp rất thấp, mặc dù chế độ ăn uống của họ cũng giàu chất béo lão hóa. Theo các nhà khoa học, polyphenol phòng chống được bệnh tim nhờ khả năng ức chế cơ thể sản xuất endothylin (một loại protein gây co mạch máu, làm giảm lượng ôxy tới tim và đóng vai trò chủ chốt gây ra bệnh mạch vành). Polyphenol có trong vỏ quả nho đỏ, vì vậy, chỉ riêng rượu đỏ mới có tác dụng phòng chống các bệnh tim mạch.
Lời khuyên của các chuyên gia dinh dưỡng là, những người trong độ tuổi trung niên trở lên, nếu mỗi bữa ăn uống thêm 1-2 ly rượu vang đỏ sẽ rất có ích cho tim mạch và kích thích ăn uống.



Làm đẹp da từ rượu vang đỏ và táo

Kết hợp giữa táo và rượu vang đỏ giúp bạn cho làn da mịn màng, tươi trẻ, giảm quá trình lão hóa.


Bước 1: Dùng dao gọt vỏ táo, cắt thành từng miếng .

Bước 2: Cho táo vào xoong, đổ ngập sữa.

Lưu ý: Bạn chưa cho rượu vang đỏ vào cùng sữa.

Bước 3: Bạn đun táo trong vòng 15 phút, bắc xuống bạn đổ ra khay hay cái gì đó và bạn để hơi nguội.

Bước 4: Khi táo hơi nguội bạn đổ rượu vang và ngâm trong 2 giờ. Lúc đó bạn ăn uống luôn là tốt nhất.


22 tháng 6, 2009

Cá chình hấp xì dầu

Cá và các sản phẩm từ cá có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt đó là nguồn cung cấp vitamine quan trọng. Mỡ cá, nhất là mỡ gan, có nhiều vitamine A, D và các vitamine nhóm B. So với thịt, cá có nguồn chất khoáng quý hơn. Tỷ số canxi/photpho ở cá cân đối hơn thịt.
Các yếu tố vi lượng như đồng, kẽm, iốt cũng là nguồn dinh dưỡng đáng chú ý, đặc biệt, iốt ở một số loại cá biển rất cao. Cá biển còn có chứa nhiều Clo và Fluo, có tác dụng tốt đối với xương và răng. Ngoài ra, trong cá còn có DHA, đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh.
Cá và các sản phẩm từ cá có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt đó là nguồn cung cấp vitamine quan trọng. Mỡ cá, nhất là mỡ gan, có nhiều vitamine A, D và các vitamine nhóm B. So với thịt, cá có nguồn chất khoáng quý hơn. Tỷ số canxi/photpho ở cá cân đối hơn thịt.

Các yếu tố vi lượng như đồng, kẽm, iốt cũng là nguồn dinh dưỡng đáng chú ý, đặc biệt, iốt ở một số loại cá biển rất cao. Cá biển còn có chứa nhiều Clo và Fluo, có tác dụng tốt đối với xương và răng. Ngoài ra, trong cá còn có DHA, đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh.

Cá chình hấp xì dầu


Cá chình hấp lá lốt

Bộ Cá chình (danh pháp khoa học: Anguilliformes) là một bộ cá, bao gồm 4 phân bộ, 19-20 họ, 110 chi và khoảng 600 loài. Phần lớn các loài cá chình là động vật săn mồi.

Anguillidae (cá chình nước ngọt) Trong một số phân loại thì họ Cyematidae (cá chình dẽ giun đuôi cộc) cũng được gộp trong bộ Anguilliformes, nhưng trong hệ thống của FishBase thì họ này được đặt trong bộ Saccopharyngiformes.
Phần lớn các loài cá chình ưa thích sinh sống trong các vùng nước nông hay ẩn mình dưới đáy biển, đôi khi trong các lỗ. Các lỗ này gọi là lỗ cá chình. Chỉ có họ Anguillidae là di chuyển vào vùng nước ngọt để sinh sống nhưng không sinh sản tại đó. Một vài loài cá chình sinh sống trong các vùng nước sâu (trong trường hợp họ Synaphobranchidae, chúng có thể xuống tới độ sâu 4.000 m (13.123 ft)) hoặc là những loài bơi lội tích cực (họ Nemichthyidae - tới độ sâu 500 m (1.640 ft)). Cá chình ăn rất tốt ,Giảm nguy cơ bệnh tim mạch ở người bị tiểu đường. Bệnh nhân bị tiểu đường, nếu ăn cá ít nhất 5 lần/tuần, thì nguy cơ mắc bệnh tim trong vòng 16 năm sẽ thấp hơn 64% so với người hiếm khi ăn cá. Những người trưởng thành, nên ăn cá ít nhất hai lần/tuần. Tốt nhất là chọn những loài cá có mỡ, vì chúng chứa acid béo Omega-3, có tác dụng bảo vệ tim mạch.

Hạ mỡ máu: Nghiên cứu trên người đã chứng minh, DHA và EPA trong cá làm giảm đáng kể hàm lượng trigtycerid trong máu, nhờ đó làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Chống huyết khối: Là nhờ các acid béo Omega-3 trong cá đẩy mạnh việc sản xuất chất chống kết tụ tiểu cầu, làm giảm sự tổng hợp chất thúc đẩy kết dính tiểu cầu.

Giảm và đảo ngược quá trình tạo xơ vữa: Các Omega-3 có tác dụng ức chế tăng sinh tế bào cơ trơn, nhờ đó làm giảm phát triển xơ vữa động mạch.


Làm giảm nguy cơ bệnh Alzheimer (suy giảm trí nhớ): Ăn cá thường xuyên sẽ giúp giảm đáng kể khả năng mắc bệnh rối loạn thần kinh, đặc biệt là căn bệnh Alzheimer ở người có tuổi.

Giảm nguy cơ bệnh tim mạch ở người bị tiểu đường. Bệnh nhân bị tiểu đường, nếu ăn cá ít nhất 5 lần/tuần, thì nguy cơ mắc bệnh tim trong vòng 16 năm sẽ thấp hơn 64% so với người hiếm khi ăn cá. Những người trưởng thành, nên ăn cá ít nhất hai lần/tuần. Tốt nhất là chọn những loài cá có mỡ, vì chúng chứa acid béo Omega-3, có tác dụng bảo vệ tim mạch.

Hạ mỡ máu: Nghiên cứu trên người đã chứng minh, DHA và EPA trong cá làm giảm đáng kể hàm lượng trigtycerid trong máu, nhờ đó làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Chống huyết khối: Là nhờ các acid béo Omega-3 trong cá đẩy mạnh việc sản xuất chất chống kết tụ tiểu cầu, làm giảm sự tổng hợp chất thúc đẩy kết dính tiểu cầu.

Giảm và đảo ngược quá trình tạo xơ vữa: Các Omega-3 có tác dụng ức chế tăng sinh tế bào cơ trơn, nhờ đó làm giảm phát triển xơ vữa động mạch.

Làm giảm nguy cơ bệnh Alzheimer (suy giảm trí nhớ): Ăn cá thường xuyên sẽ giúp giảm đáng kể khả năng mắc bệnh rối loạn thần kinh, đặc biệt là căn bệnh Alzheimer ở người có tuổi.

6 tháng 5, 2009

Lợi và hại của một số thực phẩm


Mộc nhĩ
Mộc nhĩ tươi có độc tố porphyrin làm cho da bị ngứa và niêm mạc miệng bị phồng rộp. Trong quá trình phơi nắng độc tố porphyrin bị phân giải. Mộc nhĩ khô đem ngâm nước, độc tố nếu còn lại sẽ tan vào nước. Chỉ nên ăn mộc nhĩ sau khi đã phơi khô.

Mì ăn liền

Mì ăn liền thường rán bằng dầu cọ. Ở nhiệt độ bình thường, dầu cọ bao bọc quanh sợi mì ở thể đặc. Nếu ăn khô, cơ thể người không tiêu hóa được dầu cọ ở thể đặc nên cũng không tiêu hóa được sợi mì bị dầu cọ phủ bên ngoài. Nước sôi làm cho dầu cọ tan trong nước, sợi mì không còn dầu cọ bao quanh mới tiếp xúc được các men tiêu hóa, biến thành chất dinh dưỡng nuôi cơ thể. Không nên ăn mì khô.

Nước trà và xác trà

Trà có thể chia thành 6 loại lớn: trà xanh lục, trà đỏ, trà vàng, trà xanh, trà đen, trà trắng. Lá chè có nhiều amino acid cần thiết cho cơ thể; vitamin C, E, K; caroten (bảo đảm sức khỏe cho cơ thể), kiềm purin, kiềm cà phê, kiềm cacao (gây hưng phấn thần kinh và lợi tiểu), 28 loại khoáng chất bao gồm P, K, S, Mg, Mn, F, Al, Na, Fe, Cu, Zn, Se,… Các chất này tan rất ít trong nước, phần lớn còn ở lại trong lá trà. Nhai lá trà sau khi uống hết nước trà sẽ lợi dụng được nhiều chất dinh dưỡng hơn trong lá trà mà còn làm sạch miệng, ngừa sâu răng. Không nên uống trà để cách đêm, xác trà bị oxy hóa biến đổi thành muối nitric rất độc.

Trẻ em không nên dùng trà vì chất kiềm làm cho tim trẻ em đập nhanh, máu tuần hoàn tăng làm hại tim. Kiềm tananh ức chế sự tiết chất dịch vị, cản trở sự hấp thu mở, protein, sắt gây thiếu máu, bất lợi cho việc phát triển lớn lên của trẻ.

Bột ngọt Glutamat Na

Bột ngọt dưới tác dụng của vi khuẩn đường ruột bị phân giải thành amino glutaric acid và amino casein acid là loại chất ngậm Nitơ có tính độc. Nếu nồng độ các chất độc tương đối cao, chúng sẽ được đưa vào máu gây “hội chứng mỹ vị” như là nhức đầu, tim đập nhanh và mạnh, hàm dưới rung… Chỉ cần nằm yên nghỉ ngơi thì hội chứng sẽ qua đi. Tránh cho bột ngọt vào thức ăn ở nhiệt độ >1200C vì sẽ làm cho bột ngọt biên thành chất độc hại.

Cà rốt sống và chín

Cà rốt nhờ chứa nhiều carotin nên có tác dụng trị liệu chứng thiếu vitamin A. Chất carotin không tan trong nước mà chỉ tan trong dầu. Thí nghiệm cho biết, ăn cà rốt sống, cơ thể hấp thu carotin khoảng 10% - 15%; nếu cho một ít dầu vào xào, tỷ lệ hấp thu lên đến 30% - 40%; nếu đun nấu với đủ lượng dầu mỡ, tỷ lệ hấp thu đến 90%. Dùng dầu xào chín cà rốt, xào càng nhừ, tỷ lệ hấp thu carotin càng cao. Cà rốt trị được bệnh máu trắng. Khi uông bia rượu không nên ăn cà rốt vì carotin gặp rượu sinh ra độc tố gây bệnh về gan. Không được ăn cà rốt với củ cải do vitamin C có rất nhiều trong củ cải bị men trong củ cà rốt phân hủy hết.

Nước giải khát

Nước giải khát cacbonat như coca cola chứa dioxyt cacbon, chất làm ngọt, chất làm chua, hương liệu, tinh dầu, sắc tố tổng hợp… Uống vào, chất hơi có thể làm các chất trong dạ dày đi ngược lên.

* Nước giải khát dịch rau quả như cam, dâu, dừa, cà rốt… phải cần có chất chống ôi, chất có vị chua, vị ngọt, chất làm quánh… Uống vào, chất có vị chua và chất chống ôi sẽ làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, gây hại cho gan, thận.

* Nước giải khát thể rắn như bột ngũ cốc, cà phê, bột hoa cúc… cần có thêm chất phụ gia, chất có vị ngọt, vị chua, sắc tố tổng hợp… Uống vào, chất phụ gia có thể làm hỏng răng, còn làm tiêu hao nhiều loại vitamin trong cơ thể, làm thải Ca, Fe, I… ra ngoài và ngăn cản hấp thu Cu. Thiếu Cu ảnh hưởng sự hấp thu Fe gây nên thiếu máu.

* Sữa chua (yaourt) và nước giải khát có khuẩn acid lactic. Khuẩn acid lactic sống có lợi cho sức khỏe con người. Nước giải khát lấy từ sữa tươi tuy có vị chua acid lactic nhưng qua công nghệ diệt khuẩn nên không có khuẩn acid lactic sống nên có giá trị dinh dưỡng thấp, hàm lượng protein cũng thấp hơn sữa chua.

Dụng cụ chứa thức ăn bằng inox

Inox là hợp kim bằng Fe, Cr và một số kim loại vi lượng có thể làm ô nhiễm thực phẩm, do đó không được đựng muối, xì dầu, canh… lâu nhiều giờ; không được dùng inox để nấu thuốc Bắc; không được dùng các chất tẩy rửa như sôđa, hypoclorit natri (nước javel), các hóa chât oxy hóa để chùi rửa xoong nồi bằng chất inox.

Dây, túi nylon đựng thức ăn

Nylon là nhựa polyester bị đun trong nước sôi sẽ phóng thích một số chất độc tan trong nước như dimethyl hydrocacbon ăn vào sẽ trúng độc.

Dùng dây nylon cột bánh chưng, cột khổ qua hầm… là không nên.

Dùng túi nylon đựng thức ăn nóng như cháo, phở… thức ăn cũng bị nhiễm độc.

Không ăn cà chua xanh do có chất độc hại giống như mầm khoai tây.

Rau củ giảm béo: bí đao, dưa chuột, khoai tây, giá đậu xanh, củ cải trắng, nước trà, lá sen, rau hẹ.

Nấm rơm chữa thiếu máu do thiếu sắt.

Bí đỏ phòng chữa bệnh tiểu đường.

Bí đao chữa bệnh phù thũng.

Củ cải trắng trị cao huyết áp, xơ cứng mạch máu, chống nhiễm độc, có lợi cho người già.

2 tháng 8, 2008

Thực đơn cho người tiểu đường

Tiểu đường đứng hàng thứ năm về nguyên nhân gây tử vong và hàng thứ ba về mặt biến chứng. Chế độ ăn đúng là cách điều trị hiệu quả đối với căn bệnh này.

Tiểu đường là bệnh rối loạn chuyển hoá đường: cơ thể mất khả năng tích luỹ gluco (đường) dưới thể glycogen, đường sẽ tăng trong máu và bài tiết ra nước tiểu. Người TĐ có 3 triệu chứng lâm sàng là ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều và 2 dấu hiệu hoá sinh là tăng gluco huyết, tăng gluco niệu. Y học cổ truyền gọi tiểu đường là bệnh tiêu khát. Thường chia làm 3 thể: Thể phế nhiệt ở thượng tiêu, chủ yếu là uống nhiều, tiểu nhiều; Thể vị nhiệt ở trung tiêu chủ yếu là ăn nhiều, gầy, đại tiện táo; Thể thận hư ở hạ tiêu, chủ yếu là tiểu nhiều lần, nước tiểu nhiều. Cả 3 thể có chung đặc điểm là âm hư, táo nhiệt.


5 khuyến cáo về dinh dưỡng

Nên từ bỏ các thói quen bất lợi như hút thuốc,...

Đối với bệnh tiểu đường, chế độ dinh dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phòng và điều trị bệnh. Trước đây từng diễn ra tranh luận kéo dài hàng thế kỷ về chế độ ăn uống cho người tiểu đường. Ngày nay dưới ánh sáng của tiến bộ khoa học và công nghệ người ta đã đi đến thống nhất về chế độ dinh dưỡng và ăn uống với người tiểu đường.


- Cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn thích hợp có chọn lọc nhưng bảo đảm được cuộc sống bình thường.


- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức cần và đủ. Người gầy cần phải tăng cân, người béo cần phải giảm cân.


- Chia bữa ăn hợp lý và ăn phụ để bảo đảm nhu cầu về năng lượng: ba bữa chính, 1-3 bữa phụ (ăn nhẹ).


- Bỏ dần các thói quen bất lợi như thích ăn đồ ngọt, món ăn xào, rán béo ngậy, nghiện rượu, hút thuốc.


- Về tỷ lệ chung các thành phần thức ăn nên giàu cacbon hydrat phức hợp và chất xơ, hạn chế mỡ và cholesterol.


Thực đơn các bài thuốc đơn giản


Bài 1: Táo đỏ 7 quả, kén tằm 7 cái, cho nước vào sắc đặc, uống làm vài lần.


Bài 2: Cọng rau muống 60g, râu ngô 30g rửa sạch, cho cả vào nước sắc lấy nước uống.


Bài 3: Thịt dê 250g, phổi dê 1 bộ, rửa sạch, cho nước vào nấu, uống canh.


Bài 4: Rau cần 500g, rửa sạch, giã nát, lấy vải màn sạch vắt lấy nước, nấu sôi, uống ngày 2 lần.


Bài 5: Tuỵ lợn 1 cái, 3 quả trứng gà, rau chân vịt 60g. Tuỵ lợn rửa sạch, thái miếng mỏng, nấu chín (không cho muối). Sau đó cho trứng gà, rau chân vịt vào ăn, ăn cả nước lẫn cái, ngày ăn 1 lần.


Mướp đắng chứa hợp chất có tác dụng tương tự như insulin, giúp hạ đường huyết rõ rệt


Bài 6: Cà chua 20g, vỏ dưa hấu 15g, vỏ bí xanh 15g, bột qua lâu (phấn hoa) 15g, cho vào nấu nước uống.


Bài 7: Hải sâm 1 con, trứng gà 1 quả, tuỵ lợn 1 cái. Nấu chín, chấm xì dầu ăn, cách nhật ăn 1 thang.


Bài 8: Sinh tố tổng hợp: ớt ngọt xanh 1 quả, mướp đắng 1/2 quả, dưa chuột 1 quả, rau cần vài cọng. Rửa sạch các loại rau trên, xắt đoạn. Cho rau vào máy xay, xay thành nước sinh tố. Uống ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều sẽ điều trị hiệu quả bệnh tiểu đường.


Bài 9: Lá khoai lang 50g, bí đao 200g, hành, bột gừng mỗi thứ một ít, muối, mì chính vừa đủ. Lá khoai lang rửa sạch, ngắt bỏ cuống, thái nhỏ. Bí đao rửa sạch, gọt vỏ thái miếng nhỏ. Cho bí đao vào đảo qua dầu, thêm ít nước, tra hành, gừng, đun nhỏ lửa trong 30 phút. Cho lá khoai vào nấu chín, nêm muối, mì chính. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hạ đường huyết.


Bài 10: Đậu Hà Lan 180g, đại mạch 180g, đãi sạch, cho vào nồi, đổ nước vừa đủ ninh nhừ thành cháo. Thanh nhiệt, giải độc, hạ đường huyết. Loại cháo này có thể dùng thay cơm đối với bệnh nhân tiểu đường.


Bài 11: Mướp đắng hầm đậu phụ: Mướp đắng 200g, đậu phụ 180g, hành, muối, xì dầu mỗi thứ một ít. Mướp đắng rửa sạch, bỏ ruột, thái lát. Cho dầu xào chín, tra muối, xì dầu, hành. Đổ nước vừa đủ, cho đậu phụ vào cùng nấu chín. Mướp đắng chứa hợp chất có tác dụng tương tự như insulin, giúp hạ đường huyết rõ rệt.

Cây thông, quả đào và cây tre - Những biểu tượng trường thọ

Những biểu tượng trường thọ mạnh mẽ nhất cho đời sống tinh thần lành mạnh, vĩnh cửu thì cây tre được coi như một phép ẩn dụ hoàn hảo cho cuộc sống, con người.

Riêng đối với cây đào, từng bộ phận của cây đều được tin là một biểu tượng giá trị. Ba loài cây tuy khác nhau, nhưng bởi những đặc tính đáng quý, từ lâu đã tiêu biểu cho khát vọng trường thọ của con người.

Cây thông biểu tượng của cuộc sống tinh thần khỏe mạnh

Trong những tháng mùa đông, giữa những cơn gió và tuyết trắng lạnh lẽ, cây thông vẫn sừng sững chống chọi, ngoan cường chịu đựng. Cây thông là một biểu tượng quen thuộc trong Phong Thủy cho tuổi thọ, cũng là cảm hứng sáng tác cho rất nhiều danh họa vẽ tranh thủy mặc của Trung Quốc. Trong những bức tranh phong cảnh đó, cây thông thường được vẽ chung với những tảng đá, loài hoa thủy tiên tượng trưng cho một cuộc sống với những thành tựu cá nhân lâu dài, hoặc với những khóm tre và cây mận. Chúng làm nên hình ảnh “ba người bạn trong gió tuyết”, biểu tượng cho một tình bạn bền vững qua những gian nan, thử thách.


Sự vững chãi của cây thông tiêu biểu cho khả năng
sinh tồn ngay cả trong những điều kiện sống khắc nghiệt nhất

Cây thông cũng hiện diện trong văn chương. Trong những tác phẩm của Khổng Tử, ông sử dụng hình ảnh cây thông rất thường xuyên trong các phép ẩn dụ hay tượng hình để minh họa cho sự vững chắc, khả năng sinh tồn tuyệt vời ngay cả trong những điều kiện khắc nghiệt nhất. Cây càng cao tuổi càng quý. Có một cặp cây thông khỏe mạnh trong vườn là sở hữu một biểu tượng của cuộc sống hôn nhân lâu dài và bền chặt.

Quả đào tượng trưng cuộc sống lâu dài

Cây đào mang ý nghĩa biểu tượng rất phong phú. Từng bộ phận riêng biệt của cây đều được tin là một biểu tượng giá trị. Gỗ đào được dùng để bảo vệ chống lại những linh hồn hay quấy phá hoặc yêu ma, quỷ quái. Thời xưa, những loại vũ khí như cung tên, mũi tên thường được làm bằng gỗ đào.


Hoa đào thu hút và “thôi miên” sự lãng mạn của người
nam đối với người nữ

Bộ phận có giá trị biểu tượng lớn nhất là quả đào. Theo truyền thuyết, đào là một những loài cây được trồng trong vườn Bất Tử ở núi Thánh và trong khu vườn của Vương Mẫu nương nương.

Quả đào còn là biểu tượng của tuổi xuân, vì trong mùa xuân, đào mới ra hoa, kết quả. Mùa xuân cũng được cho là mùa tốt nhất để tổ chức hôn lễ nên quả đào cũng là biểu tượng của hôn nhân. Những ai độc thân treo một bức tranh cây đào có quả trong phòng riêng thì người đó sẽ may mắn trong đường tình duyên. Cũng có thể đặt một bức tượng hình cây đào ở hướng Tây Nam để có vận may trong tình duyên.


Cây tre bền chặt và kiên cường

Trong Phong Thủy, cây tre cũng mang rất nhiều ý nghĩa biểu tượng. Cây tre đã từ lâu được cho là một biểu tượng của tuổi thọ bởi luôn xanh tươi quanh năm trong bất cứ thời tiết nào và vẫn có thể phát triển trong những điều kiện rất khó khăn.
Họ nhà tre có rất nhiều loài, mỗi loài lại có rất nhiều chi với những tên gọi khác nhau. Cây tre có nhiều gai, nhiều lá ở thân biểu tượng cho tuổi già thanh thản cùng gia đình hạnh phúc, con cháu giỏi giang, thành đạt. Loài tre có thân đặc tượng trưng cho một cuộc sống mạnh khỏe, không có bệnh tật. Những ai muốn tre đem lại thọ khí cho gia đình thì trồng những cây tre trong chậu đặt ở phía trước ngôi nhà, tốt nhất là đặt dọc theo phía Đông của vườn nhà.



Những khóm tre được trồng ở hướng Bắc khu
vườn nhà sẽ như một sự che chở, bảo vệ

Treo một bức tranh vẽ theo lối truyền thống hình dáng cây tre sum suê, rậm lá trong phòng học hay văn phòng có thể gặp may mắn về việc học hành và trên đường sự nghiệp. Nên chọn bức tranh có vẽ nhiều lá tre đang đung đưa theo những con số tốt. Những nhóm có từ sáu tới chín lá tốt hơn là những nhóm có từ hai đến năm lá.
Vào mùa đông lạnh giá của Trung Quốc, nhiều gia đình thường trồng những khóm tre như một tấm lá chắn chống lại những đợt gió buốt giá thổi từ phương Bắc. Theo cách đó, những khóm tre được trồng ở hướng Bắc khu vườn nhà sẽ như một sự che chở, bảo vệ ngôi nhà.



Nên chọn bức tranh có vẽ nhiều lá tre đang
đung đưa theo những con số tốt

Nhiều nghệ sĩ và thư pháp gia đã sử dụng những nét bút hoàn hảo để tạo nên các đốt tre, thân tre và cả lá tre. Một tác phẩm thư pháp đẹp cũng là một biểu tượng tốt trong Phong Thủy, đặc biệt khi chữ được viết là một từ có ý nghĩa tốt đẹp. Hình vẽ cây tre kết hợp với thư pháp theo Phong Thủy sẽ mang lại một cuộc sống hạnh phúc lâu dài, giúp người ta vượt qua những thời điểm gian nan, hoạn nạn nhất. Hình cây tre với chữ thư pháp nên treo trong phòng học hay phòng đọc sách của gia đình.

Thực hiện in

6 tháng 8, 2007

Nghĩ về ...người thầy thuốc

TT - Nghề y là một nghề hết sức đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sinh mạng của con người nên phải được huấn luyện rất lâu, rất kỹ, mà giai đoạn đầu đã phải mất ít nhất 6-8 năm ở trường đại học, sau đó còn phải học thêm 3-4 năm nữa để có thể thành một thầy thuốc có đủ năng lực hành nghề.

Rồi phải thêm chừng 10 năm kinh nghiệm mới có thể gọi là thấu đáo, vững vàng trong nghề nghiệp.

Trong huấn luyện, họ phải rèn tập những kỹ năng gần như "máy móc hóa": một làn dao, một mũi kim đều không thể ngẫu hứng tình cờ. Họ cũng phải học cả những thái độ, cử chỉ, cách ứng xử với từng trường hợp - giờ giấc hoạt động của họ được lên khuôn - chương trình hóa một cách chính xác… Rồi cả cách ăn mặc, cách nói năng. Rồi những tiêu chuẩn, những đòi hỏi trong phẩm chất đạo đức.

Họ chịu trách nhiệm về phần xác và cả phần hồn của thân chủ. Một sự chậm trễ, thờ ơ của họ có thể làm chết người. Một sự cẩu thả của họ trong lời ăn tiếng nói có thể gây nỗi đau cho người khác. Chỉ có họ mới đang đêm khuya khoắt người ta có thể dựng dậy để nghe mô tả về phân, về nước ối, về sự khó ở của mình. Và cũng chỉ có họ mới được người ta tin cậy thổ lộ hết tâm can, những đau đớn về thể chất, tinh thần, cũng như sẵn sàng cởi bỏ quần áo để được thăm khám không chút e dè bởi tin rằng họ đã thề trước ông tổ nghề y là không bao giờ tiết lộ bí mật của người bệnh. Có những điều người bệnh không thể nói với ai dù là cha mẹ, vợ chồng, con cái mà chỉ nói được với người thầy thuốc!

Để rèn luyện một nghề nghiệp như vậy, họ - ngay từ những ngày đầu - đã được khoác lên người chiếc áo blouse trắng, bỏ đi bộ quần áo quen thuộc, nếp sống cũ ở ngoài kia. Họ mày mò với xác chết, với các bộ xương người, họ qua lại trong môi trường đầy không khí trang nghiêm, trách nhiệm cao - sơ sẩy là chết người.

Họ tập nghe tiếng rên la, tập nhìn con người trần trụi, tênh hênh với những sự thật phũ phàng, với những đớn đau của nó. Để rồi ngày tháng dần qua, họ đổi thay lúc nào không hay, họ nói năng như mệnh lệnh, họ nhìn như quan sát, họ hỏi như điều tra, họ bình tĩnh đến lạnh lùng, họ che giấu cảm xúc rất khéo léo - nghĩa là họ thành một con người khác: một bác sĩ, một người thầy thuốc!

Mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân là một mối quan hệ đặc biệt. Người bệnh đến với thầy thuốc không phải để tìm kiếm thuốc men hay những thông tin liên quan đến bệnh tật, mà còn mang theo cả những nỗi băn khoăn, lo lắng, sợ hãi… Và như vậy, nhiều khi chỉ cần một câu nói, một cái nhìn, một bàn tay… của người thầy thuốc cũng đủ giải quyết vấn đề của người bệnh!

Một bệnh nhân đang âu lo, sợ hãi, mất ăn mất ngủ vì nghĩ mình bị ung thư chỉ cần bác sĩ chuyên khoa thăm khám kỹ càng rồi kết luận "không phải ung thư đâu!", "đừng lo!" thì gánh nặng tức khắc được đặt xuống, mọi việc hoàn toàn đổi khác mà không cần đến một viên thuốc! Thế nên người có bệnh vẫn sẵn sàng lội suối trèo non tìm đến người thầy thuốc giỏi để chữa, không phải vì cơ ngơi bề thế, trang thiết bị tân kỳ mà chính vì kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm tích lũy và tình người thấm đẫm kia của họ.

Người thầy thuốc nào khi bước vào trường y cũng với tâm nguyện vì người, đó là một thiên hướng trong việc chọn nghiệp chứ không phải là một sự đầu tư...! Nghề y không thể coi là một ngành kinh doanh, một mũi nhọn kinh tế, vì nếu như thế người ta sẽ nghĩ đến việc khai thác tối đa lợi nhuận trên sức khỏe con người! Người thầy thuốc thường mất ăn mất ngủ trước một ca bệnh lý, thường bứt rứt ăn năn dài lâu trước một lỡ lầm đôi khi không sao tránh khỏi trong lúc hành nghề! Xã hội cần tôn trọng và đánh giá đúng sự đóng góp của người thầy thuốc để giúp họ sống xứng đáng với vai trò, chức năng mà xã hội đã giao phó.

Chữa bệnh bằng âm nhạc


Hay còn được gọi là âm nhạc liệu pháp, giúp điều trị các chứng bệnh thần kinh và tâm lý như bệnh tự kỷ, alzheimer, thiểu năng trí tuệ.
Dựa trên âm nhạc và âm thanh, liệu pháp này có thể áp dụng cho người lớn lẫn trẻ em. Nhà tâm lý trị liệu Wagner, người Pháp, từng phát biểu: “Âm nhạc bắt đầu ở nơi mà khả năng của những lời nói chấm dứt”.
Thực tế, âm nhạc là một phương cách biểu lộ và trao đổi vốn có thể giúp đỡ những người ít có tính cởi mở. Nó có một tác động tích cực chống stress và làm giảm thiểu tâm trạng âu lo.

Nhịp điệu và rung động

Kèm hoặc không kèm theo những rung động cơ thể (bàn tay, bàn chân, thân mình…), những nhạc cụ và âm thanh được sử dụng như những phương tiện biểu lộ. Nhờ vào đó, các bệnh nhân biểu lộ các cảm xúc và tình cảm của họ thay vì phát biểu qua lời nói. Một bệnh nhân bộc phát cơn tức giận của mình bằng cách gõ dữ dội vào một cái trống. Một bệnh nhân khác giải tỏa nỗi buồn phiền bằng cách gảy nhẹ nhàng những sợi dây đàn guitar cùng với những lời than thầm thì mà mỗi giai điệu không cần thiết phải có ý nghĩa. Không nên lầm lẫn âm nhạc liệu pháp với hoạt động âm nhạc vốn mục đích nhắm đến tính nghệ thuật hơn là trị bệnh.

Liệu pháp âm nhạc bổ sung những phương pháp trị bệnh cổ truyền, nhắm đến cải thiện sức khỏe của bệnh nhân trên các bình diện tâm lý, thể lý và cảm xúc, cùng lúc giúp bệnh nhân kiểm soát và chịu đựng những triệu chứng xúc cảm của họ.

Âm nhạc liệu pháp chủ động

Âm nhạc liệu pháp chủ động được áp dụng chủ yếu đối với các bệnh nhân có những khó khăn hoặc mất khả năng tự biểu lộ. Họ tìm được qua đây một phương thế biểu lộ các cảm xúc của họ và dần dà cải thiện tính giao du cùng lúc ít bị căng thẳng, lo âu.

Âm nhạc liệu pháp thụ động

Liệu pháp này khêu gợi một bản nhạc, kích thích phát sinh những xúc cảm nơi bệnh nhân để được khuyến khích biểu lộ. Ở căn bệnh alzheimer, ký ức âm nhạc được bảo tồn lâu hơn ký ức lời nói. Việc điều trị nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống bằng cách làm sống lại các ký ức. Nhà tâm lý học người Pháp - Nathalie Laeng chuyên chữa trị bằng liệu pháp âm nhạc cho các người già, giải thích: “Chúng tôi đề nghị các bệnh nhân nghe những bản nhạc dân ca, những bài ca đánh dấu sự hiện hữu của họ. Sau khi nghe một bản nhạc cổ điển mà họ từng nghe những năm trước đây, bệnh nhân trở nên linh hoạt, muốn nghe đi nghe lại va ngay cả có thể gợi lại những ký ức cá nhân nổi bật liên hệ đến bản nhạc này”.

Bằng cách tìm lại những yếu tố chủ thể đang bị đánh mất, bệnh nhân khám phá được mối liên hệ với những ký ức của mình, trở nên phấn chấn và giao du tốt hơn với những người khác. Đối với trạng thái lo âu, trầm cảm, âm nhạc liệu pháp thụ động có hiệu quả tức khắc, giúp bệnh nhân giảm nhẹ và chịu đựng tốt hơn các triệu chứng.

(Theo SANTÉ MAGAZINE)

Trị liệu mệt mỏi tâm thần và thể xác

Giám đốc Trung tâm Y học cổ truyền hiện đại Hồng Bàng, thường xuyên có những buổi chia sẻ về những liệu pháp để giữ gìn sức khỏe. Rất nhiều người đã đến nghe ông nói để giải tỏa mệt mỏi, được ông hướng dẫn cho bí quyết trị liệu mệt mỏi tâm thần và thể xác. Dưới đây là buổi nói chuyện về sức khỏe của BS.Trương Thìn.

Con người khi làm việc quá nhiều, cứ suốt ngày suy nghĩ, tính toán thì sức sống, năng lượng được huy động tối đa (lao lực), dẫn đến suy nhược cơ thể. Đồng thời con người có những tính khí nóng nảy, lo lắng, sợ hãi, dễ gây gỗ thì đó là biểu hiện của suy nhược về tâm thần (lao tâm). Để sống khỏe thì không nên quá lao tâm, lao lực.

Vậy liệu pháp nào để “làm việc nhiều mà… ít mệt”? Theo tôi chúng ta không nên làm cho não mệt, chỉ nên tập trung làm những công việc mình yêu thích. Khi tập trung làm công việc mình yêu thích thì vùng não (tương đương với việc đó) hoạt động còn các vùng não khác sẽ được nghỉ ngơi. Đồng thời cũng không nên cố sức làm tới cùng một công việc nào đó mà làm đến một mức độ vưa phải rồi làm một việc khác để cho vùng não chú ý vào việc trước đó được nghỉ ngơi và kích hoạt vùng não khác (khi ta chú ý vào việc khác) hoạt động. Và cứ thế xoay vần từ việc này qua việc khác để các vùng não đươc làm việc, nghỉ ngơi… như thế sẽ không căng thẳng mà lại làm được nhiều việc. Tất nhiên khi làm một việc gì chúng ta chỉ nên để tâm đến việc mình đang làm, chỉ biết việc ấy chứ đừng suy nghĩ tùm lum, đó là trạng thái “thiền định”. Còn với một người không làm việc gì thì có thể tập thiền theo cách biết hơi thở, bước đi nghĩa là chúng ta hướng duy nhất một vùng não hoạt động (hô hấp hay cử động đi) chứ không kích hoạt toàn bộ bộ não nghĩ lung tung. Do vậy tôi cho rằng người trí thức khi làm việc chú tâm, biết việc mình làm thì cũng giống như… thiền sinh.

Nhân đây tôi cũng xin nói thêm liệu pháp để giảm căng thẳng là không nên suy nghĩ nhiều. Theo tôi người càng suy nghĩ nhiều, càng đăm chiêu là người càng yếu về tinh thần. Chính vì vậy khi gặp những việc khó khăn chúng ta không nên cố ép mình phải nghĩ rồi bế tắc, lo sợ mà nên ngủ nghỉ, đi chơi. Sau khi ngủ nghỉ xong chúng ta sẽ có cách giải quyết hay hơn là cố bắt bộ não phải nghĩ. Hãy thương bộ não của mình, đó là điều mà tôi muốn chia sẻ. Các bạn đừng bắt bộ não chứa nhiều, đừng ham thu thập, nhận tất cả những cái xung quanh mà hãy nhận những cái mình thích và cần thôi. Phải học cách biết quên để không nhớ quá nhiều vì nhớ đủ thứ chuyện, thu thập đủ thứ chuyện thì toàn bộ não phải làm việc. Điều này dễ dẫn đến căng thẳng. Có những chuyện chẳng hay ho gì, những chuyện ở đâu đâu chúng ta cũng hay vơ vào mình, “save”(lưu) vào trong não, đó là những “chất độc” và hóa ra chúng ta đang đầu độc bộ não của mình. Bộ não của con người cũng giống như các ổ đĩa trong máy tính, nếu chúng ta lưu nhiều thì nó sẽ đầy, sẽ mệt mỏi, chậm chạp, đến lúc bệnh. “Lưu” mà không biết chọn lọc thì sẽ gặp phải… virus vào phá hỏng bộ não. Do vậy mọi người không nên ôm đồm nhiều thứ từ việc học đến việc làm cũng vậy vì làm não mệt moi dẫn đến thể xác và tâm thần đều bệnh!

Thêm một vấn đề nữa đó là buồn, giận, yêu thương, lo lắng, sợ sệt… đều có lợi cho sức khỏe. Lâu nay chắc các bạn nghĩ rằng chỉ có vui mới có lợi cho sức khỏe? Tuy nhiên phải lưu ý là những trạng thái tinh thần trên chỉ có lợi khi những yếu tố đó loãng, nếu nó đậm đặc thì sẽ có hại. Ví dụ như khi các bạn vui vui thì sẽ cảm thấy hạnh phúc nhưng nếu quá vui mà không có điểm dừng thì lại có hại. Tương tự, lo lo thì được nhưng nếu quá lo thì sẽ làm bấn loạn tinh thần. Và sợ, buồn… cũng vậy! Khi vui, buồn, lo, giận, sợ… tất cả những thứ này đều cần phải được biểu hiện, không được nén những thứ đó lại vì như thế sẽ sinh bệnh. Khi ai đó buồn muốn khóc tôi luôn để họ khóc, thậm chí khóc theo, bảo họ khóc nữa đi…, bởi khóc là con đường giải tỏa buồn bực. Nén khóc là bệnh đó. Đồng thời người bên cạnh (bạn bè, người thân,…) cũng cần có sư đồng thuận với những cảm xúc của người đang vui, lo, buồn… để làm cho tình trạng tâm lý đang có không kết dính và trở nên đậm đặc.

Cuối cùng, điều tôi muốn gửi gắm đến các bạn là nghệ thuật chính là vị thuốc quý của tâm hồn, nó chuyển nỗi đau thành hạnh phúc. Vì vậy thưởng thức thơ, nhạc, họa là cần thiết, đặc biệt là khi thơ, nhạc, họa ấy phù hợp với tâm trạng sẽ làm cho con người vơi bớt ưu tư, lo lắng, hay mệt mỏi, muộn phiền.